This is an example of a HTML caption with a link.

48 câu vấn đáp về Pháp môn Niệm Phật - 19

Đăng lúc: Thứ bảy - 14/03/2015 21:02 - Người đăng bài viết: Ban Quản Trị
Nghi vấn thứ 19:- Nay tôi quyết định cầu sanh Tây Phương, nhưng chưa biết phải làm những nghiệp gì, và lấy chi làm chủng tử để được sanh về Cực Lạc?
48 câu vấn đáp về Pháp môn Niệm Phật - 19

48 câu vấn đáp về Pháp môn Niệm Phật - 19

Lại hạng phàm phu ở thế tục đều có gia đình, chưa biết không đoạn dâm dục có được sanh về cõi kia chăng?

Trí Giả đại sư dạy:- Muốn quyết định được sanh về Tây Phương phải có đủ hai hạnh: yểm ly và hân nguyện.

Nói yểm ly là hàng phàm phu từ vô thỉ đến nay bị ngũ dục buộc ràng nên luân hồi trong sáu đạo, chịu không biết bao nhiêu nỗi khổ! Trong vòng lẩn quẩn ấy, nếu không chán lìa ngũ dục thì làm sao có thể thoát ly? Cho nên người tu Tịnh Độ phải thường xét thân nầy là một khối thịt xương máu mủ, chứa đựng đàm dãi, đại tiểu tiện và các thứ nhơ nhớp hôi tanh. Kinh Niết Bàn nói: 'Vòng thành thân kiến như thế, duy loài La Sát ngu si mới chịu ở trong đó; nếu người có trí ai lại đắm nhiễm thân nầy!” Lại trong Kinh cũng nói: 'Thân nầy là nơi tập hợp của các thứ khổ, là cảnh tù ngục, là một khối ung sanh tất cả đều bất tịnh. Nên xét cho cùng, nó không có nghĩa lý lợi ích chi khi ta chấp lấy nó, dù là thân của chư thiên.' Vì thế, hành giả ở trong các oai nghi hoặc khi nằm nghỉ, lúc thức giấc, nên thường quán sát thân nầy chỉ có khổ không chi vui, mà thâm tâm sanh niệm chán lìa. Như thế, dù cho không dứt liền được việc nam nữ, cũng có thể lần lần khởi tâm nhàm chán.

Lại hành giả cũng cần nên quán bảy pháp bất tịnh. Bảy pháp ấy là:

a. Chủng tử bất tịnh: Thân nầy do nơi nghiệp dâm dục, từ hạt giống tham ái mà sanh.

b. Thọ sanh bất tịnh: Mầm sanh khởi của bản thân lại do một điểm tinh huyết cha mẹ hòa hợp trong khi gần gũi.

c. Trụ xứ bất tịnh: Thai thân ở trong tử cung nhơ nhớp, nằm dưới ruột non, trên là ruột già.

d. Thực đạm bất tịnh: Khi còn ở trong thai, huyễn thân lại thọ dụng huyết phần của người mẹ.

e. Sơ sanh bất tịnh: Khi đã đủ tháng ngày, thai thân đầu hướng về sản môn, ra khỏi mình người mẹ cùng một lúc với máu mủ, sự hôi nhơ dẫy đầy.

f. Cử thể bất tịnh: Trong lớp da ngoài che đậy, thân nầy là tất cả sự hôi nhơ của các chất: thịt, xương máu, đàm, đạI, tiểu.

g. Cứu cánh bất tịnh: Đến khi chết rồi, thân nầy là một đống thịt sình thúi rã rời, mặc cho giòi tửa bò lan hoặc quạ diều tha mổ.

Thân của mình đã thế, thân người khác cũng như vậy. Nếu thường quán sát bảy điều ấy, đối với các thân nam nữ mà người đời cho rằng xinh đẹp, cũng sanh niệm yểm ly và lửa ái dục cũng lần lần tiêu giảm. Như thật hành được môn cửu tưởng quán, càng thêm tốt:

- Tưởng thân mới chết.

- Tưởng thây chết đổi sắc bầm xanh tím.

- Tưởng thây chết sình lên dẫy đầy máu mủ và sắp rã.

- Tưởng thây sình bấy nứt rã, nước hôi chảy ra.

- Tưởng thây sình rã, giòi tửa bò lúc nhúc.

- Tưởng thây sình thịt tiêu hết chỉ còn gân và xương.

- Tưởng gân cũng tiêu hoại chỉ còn xương nằm ngổn ngang.

- Tưởng thây bị thiêu chỉ còn bộ xương co rút, hay thây rã chỉ còn những khúc xương thúi.

- Tưởng nắng chan mưa gội, xương hóa thành khô trắng.

Lại nên phát nguyện cầu cho mình vĩnh viễn thoát ly thân nam nữ mê nhiễm, tạp thực, không sạch của ba cõi, mà được thân pháp tánh Tịnh Độ. Trên đây là đại lược về Yểm Ly môn.

Về hạnh hân nguyện, đại khái có hai điều kiện.

1. Phải nhận rõ mục đích cầu sanh: Sở dĩ chúng ta cầu về Tịnh Độ là vì muốn thoát sự khổ cho mình và tất cả chúng sanh. Hành giả phải nghĩ rằng: Sức mình yếu kém, còn bị nghiệp ràng buộc, mà ở cõi đời ác trược nầy cảnh duyên não phiền quá mạnh. Ta cùng chúng sanh bị chìm đắm nơi dòng mê, xoay vần trong sáu nẻo, trải qua trần kiếp từ vô thỉ đến nay, cũng vì lẽ ấy. Bánh xe sống chết quay mãi không ngừng, ta làm thế nào để tìm con đường độ mình độ người một cách yên ổn chắc chắn? Muốn được như thế, duy có cầu sanh Tịnh Độ, gần gũi Phật, Bồ Tát, nhờ cảnh duyên thắng diệu bên cõi ấy tu hành chứng Vô Sanh Nhẫn, mới có thể vào nơi đời ác cứu khổ cho hữu tình. Luận Vãng Sanh đã nói: 'Phát tâm Bồ Đề chính là phát tâm cầu thành Phật, tâm cầu thành Phật là tâm độ chúng sanh, tâm độ chúng sanh là tâm nhiếp chúng sanh sanh về cõi Phật.'

Lại muốn sanh về Tịnh Độ, phải có đủ hai phương diện: xa lìa ba pháp chướng Bồ Đề và y theo ba pháp thuận Bồ Đề. Ba pháp chướng Bồ Đề là thế nào?

Một là tâm cầu sự an vui riêng cho mình, chấp ngã và tham trước bản thân. Hành giả phải y theo trí huệ môn mà xa lìa tâm niệm ấy.

Hai là tâm rời bỏ không chịu cứu vớt chúng sanh khổ. Hành giả phải y theo từ bi môn mà xa lìa tâm niệm ấy.

Ba là tâm chỉ cầu sự cung kính cúng dường, không tìm phương pháp làm cho chúng sanh được lợi ích an vui. Hành giả phải y theo phương tiện môn mà xa lìa tâm niệm ấy. Nếu lìa ba pháp chướng Bồ Đề, thì sẽ được ba pháp thuận Bồ Đề. Xin kể rõ ra đây ba pháp tùy thuận ấy:

Một là Vô Nhiễm Thanh Tịnh tâm, không vì tự thân mà cầu các sự vui. Bởi Bồ Đề là thể trong sạch lìa nhiễm trước, nếu cầu sự vui riêng cho mình tức thân tâm có nhiễm, làm chướng Bồ Đề môn; nên tâm thanh tịnh không nhiễm gọi là tùy thuận Bồ Đề.

Hai là An Thanh Tịnh tâm, vì cứu độ tất cả khổ cho chúng sanh. Bởi Bồ Đề là tâm trong sạch làm cho chúng sanh được an ổn, nếu không cứu độ loài hữu tình khiến họ được lìa sự khổ sanh tử, tức là trái với Bồ Đề môn; nên tâm cứu khổ đem lại an ổn cho chúng sanh gọi là tùy thuận Bồ Đề.

Ba là Lạc Thanh Tịnh tâm, muốn khiến cho chúng sanh được Đại Niết Bàn. Bởi Đại Niết Bàn là chỗ cứu cánh thường vui, nếu không khiến cho loài hữu tình được niềm vui cứu cánh tức là ngăn che Bồ Đề môn; nên tâm muốn cho chúng sanh được hưởng cảnh thường lạc gọi là tùy thuận Bồ Đề.

Làm thế nào để thành tựu sự xa lìa và tùy thuận trên đây? Ấy là phải cầu sanh Tịnh Độ để được thường gần Phật, tu hành cho đến khi chứng Vô Sanh Nhẫn. Chừng đó mặc ý cỡi thuyền đại nguyện vào biển luân hồi, vận tâm bi trí cứu vớt chúng sanh, tùy duyên mà bất biến, không còn chi trở ngại nữa. Tất cả mấy điểm trên đây là thuyết minh về mục đích cầu sanh.

2. Nên quán tưởng y chánh cõi Cực Lạc: Hành giả nên quán tưởng báo thân của Phật A Di Đà sắc vàng rực rỡ, có tám muôn bốn ngàn tướng, mỗi tướng có tám muôn bốn ngàn vẻ đẹp, mỗi vẻ đẹp có tám muôn bốn ngàn tia sáng, soi khắp pháp giới, nhiếp lấy chúng sanh niệm Phật. Lại nên quán cõi Cực Lạc bảy báu trang nghiêm như các kinh Tịnh Độ đã nói. Ngoài ra, người niệm Phật khi bố thí, trì giới, cùng làm tất cả hạnh lành, đều phải hồi hướng cầu cho mình và chúng sanh đồng sanh Cực Lạc.

Nếu thật hành hai điều trên, hành giả sẽ phát tâm khát ngưỡng Tây Phương, quyết định sẽ được vãng sanh. Và đây là Hân Nguyện Môn.

Chú thích chương II.

[1]: Bốn loại sáu đường gồm:

Bốn loại hữu tình do bốn sự sinh khác nhau: hóa sịnh thai sinh, noãn sinh và thấp sinh. Sáu đường chỉ lục đạo luân hồi.

[2]: Gồm có các nghĩa:

1) Bảo hộ ức niệm (khiến cái ác bên ngoài không xâm phạm thì gọi là hộ, khiến điều thiện ở bên trong được nẩy nở thì gọi là niệm)

2) Hộ niệm là phương thức tụng niệm của những người tu theo Tịnh Độ, giúp cho người quá vãng được vãng sanh Tịnh Độ. Thành viên trong gia đình người sắp chết cũng như bà con phải luôn bình tĩnh, buồn nhưng không khóc, từ lúc người ấy trở bịnh nặng cho đến lúc lâm chung. Chúng ta phải luôn nhớ rằng đây là giai đoạn của thân trung ấm, giai đoạn chuyển tiếp quan trọng nhứt trong kiếp chúng sanh. Đây là giai đoạn mà người lâm chung đang đứng trước ngã rẽ giữa quỷ, người, phàm Thánh. Trong giai đoạn nầy điều quan trọng nhất nên làm là cùng nhau hộ niệm. Dù cho người ấy đã có ý hướng sanh về cõi nào, có thể là cõi thiện; tuy nhiên, sự than khóc của người thân làm khơi dậy niệm luyến ái trong người ấy, do vậy người ấy có thể rơi trở về vòng sanh tử, uổng phí một đời tu.

[3]:  từ gọi tắt của Tứ Niệm Xứ Quán, còn được gọi là Tứ Niệm Chỉ, Tứ Niệm Trú, Tứ Ý Chỉ, là bốn loại đầu tiên trong 37 phẩm trợ đạo mà Phật Giáo Tiểu Thừa có đề cập đến. Đây là bốn loại phương pháp nhằm để tập trung tâm vào một điểm, đề phòng tạp niệm vọng tưởng và đạt được chân lý. Tứ Niệm Xứ gồm có:
(1) Thân Niệm Xứ: quán thân thể là bất tịnh.
(2). Thọ Niệm Xứ: quán sự thích ghét của các tác dụng thọ cảm, hết thảy đều là khổ.
(3). Tâm Niệm Xứ: quán tâm là sinh diệt, vô thường.
(4). Pháp Niệm Xứ: quán hết thảy các pháp là vô ngã

[4]: Nhẫn đạt được qua hiểu biết rằng tất cả mọi hiện tượng đều không sanh. Sự hiểu biết về tánh không và vô sanh của chư Bồ Tát, những vị đã đạt được Bát Địa hay Bất Thối Địa.

"Vô sanh nhẫn": Lòng đã an trụ nơi lý vô sanh vô diệt, tâm yên tịnh không diêu động với nghịch cảnh, từ sơ địa Bồ Tát cho đến bậc Phật, đều chẳng còn sanh ác tâm mà sơ địa mới chứng cái danh vô sanh nhẫn, Bát địa chứng ngộ thể vô sanh nhẫn. Tỏ được cái Chơn Như Thật Tướng, gọi là đắc pháp vô sanh. Tỏ được cái chơn trí vô lậu, gọi là nhẫn, vì khi đã đắc được cái trí ấy, tâm mới nhẫn khả được tất cả hoàn cảnh mà được tự tại vô ngại, nên gọi là vô sanh nhẫn..nguoiphattu.com

[5]: từ gọi tắt của Thường Tịch Quang Độ, là cõi Tịnh Độ nơi pháp thân của chư Phật Như Lai an trú, một trong 4 quốc độ của giáo thuyết Thiên Thai Tông, còn gọi là Tịch Quang Tịnh Độ, Tịch Quang Quốc, Tịch Quang Độ, Tịch Quang.

Thế giới an trú của chư Phật là bản tánh chân như, không biến hóa, sanh diệt (tức thường), không bị phiền não nhiễu loạn (tức tịch) và có ánh sáng trí tuệ (tức quang), cho nên có tên gọi là Thường Tịch Quang Độ. Đây là quốc độ chư Phật tự chứng bí tạng tối cùng cực, lấy pháp thân, giải thoát và bát nhã làm thể, đầy đủ 4 đức Thường, Lạc, Ngã và Tịnh. Trong Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật danh Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ, kỳ Phật trú xứ danh Thường Tịch Quang, Thường Ba La Mật sở nhiếp thành xứ, Ngã Ba La Mật sở an lập xứ, Tịch Ba La Mật diệt hữu tướng xứ, Lạc Ba La Mật bất trú thân tâm tướng xứ (nghĩa là: đức Phật Thích Ca Mâu Ni Phật có tên là Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ [Tỳ Lô Giá Na Biến Hết Thảy Các Nơi], trú xứ của Phật ấy tên là Thường Tịch Quang, nghĩa là nơi được nhiếp thành của Thường Ba La Mật, nơi được an lập của Ngã Ba La Mật, nơi diệt hết các tướng có của Tịch Ba La Mật và nơi không trú vào tướng thân tâm của Lạc Ba La Mật)”. Hơn nữa, quốc độ này được phân thành Phần Chứng và Cứu Cánh với 3 phẩm thượng, trung, hạ. Theo lời dạy trong quyển 1 của Duy Ma Kinh Lược Sớ cho biết rằng cõi của Diệu Giác Pháp Thân  cư trú là Thượng Phẩm Tịch Quang Độ, cõi của Nhất Sanh Đẳng Giác  là Trung Phẩm Tịch Quang Độ, cõi của Viên Giáo từ sơ trú trở lên là Hạ Phẩm Tịch Quang Độ.

Trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải của Đại Sư Ngẫu Ích Trí Húc (1599-1655) nhà Thanh có đoạn rằng: “Lại nữa, chỉ lấy nguyện này trang nghiêm một tiếng niệm A Di Đà Phật, chuyển Kiếp Trược thành Hải Hội Thanh Tịnh, chuyển Kiến Trược thành Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Não Trược thành Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược thành hoa sen hóa sanh, chuyển Mạng Trược thành Vô Lượng Thọ; cho nên một tiếng niệm A Di Đà Phật là pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề do đức Bổn Sư Thích Ca chứng đắc ở đời ác có Năm Trược).” Hay như trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận quyển 6, phần Cảnh Tâm Cư Sĩ Trì Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Kiêm Khuyến Nhân Tự  có câu: “Nhất niệm mê Thường Tịch Quang Độ tiện thành A Tỳ Địa Ngục, nhất niệm ngộ A Tỳ Địa Ngục tiện thị Thường Tịch Quang Độ ( một niệm mê bèn thành Địa Ngục A Tỳ, một niệm ngộ tức là Thường Tịch Quang Độ).”

[6]: Chủng tử Phật hay Bồ Tát, được ví như hạt giống nếu đem gieo vào tâm thức con người, sẽ nẩy mầm Phật hay giác ngộ.

[7]: vị vua có phước đức và sức mạnh khuất phục được tất cả các vua khác, cũng gọi là Chuyển luân thánh vương, vì khi vị vua này ra đời thì tự nhiên xuất hiện các báu vật để vua sử dụng, giúp vua chinh phạt mọi nơi trong thiên hạ.

[8]: Hữu lậu: đối nghĩa với Vô Lậu.

Lậu nghĩa là chảy mất, rỉ rỏ ra, là tên gọi khác của phiền não.

Con người do vì sai lầm, khổ quả vốn sanh ra từ phiền não, khiến cho họ cử trôi lăn mãi trong thế giới mê lầm, không bao giờ dừng nghỉ, khó có thể thoát ra biển sanh tử; nên goi là Hữu Lậu. Nếu đạt đến cảnh giới đoạn diệt phiền não, được gọi là Vô Lậu. Trong Tứ Thánh Đế , Khổ Đế và Tập Đế thuộc về nhân và quả của mê lầm, là pháp Hữu Lậu; Diệt Đế và Đạo Đế là nhân và quả của giác ngộ, thuộc về pháp Vô Lậu. Các pháp Hữu Lậu cũng như Vô Lậu vốn ở trong nhân, quả tu hành, có vị trí vô cùng quan trọng.

Như trong Tăng Nhất A Hàm Kinh có đoạn: “Khi tư duy về Thất Giác Chi, tâm Hữu Lậu diệt tận, bèn được giải thoát, sau chứng được đạo vô thượng chánh chân).” Hay trong Du Già Sư Địa Luận Thích lại có đoạn: “Khởi các phiền não, sinh nghiệp Hữu Lậu, luân hồi Năm Đường, chịu ba khổ lớn.”

[9]: Nhất sanh bổ xứ: Là vị chỉ còn sanh một lần nữa là được lên ngôi Phật, thường chỉ áp dụng cho Bồ Tát. Tất cả các vị vãng sanh Tịnh Độ, người nào cũng quyết thực là nhất sanh bổ xứ, trong số đó có vô số “Thượng Thiện Nhân”.

[10]:  Đâu suất, Phạm: Tuṣita, Pàli: Tusita, Tạng: Dgaḥ-ldan. Cũng gọi Đô suất thiên, Đâu thuật thiên, Đâu suất đà thiên, Đâu suất đa thiên, Đâu sư đà thiên, Đổ sử đa thiên, Đâu sử đa thiên. Hán dịch: Tri túc thiên, Diệu túc thiên, Hỉ túc thiên, Hỉ lạc thiên. Hợp chung với Dạ ma thiên gọi là Đâu dạ.

Là cõi trời thứ 4 trong sáu tầng trời cõi Dục, rộng 8 vạn do tuần, nằm ở khoảng giữa trời Dạ ma và trời Lạc biến hóa, cách trời Dạ ma 16 vạn do tuần. Về tên gọi của cõi trời này, cứ theo luận Lập thế a tì đàm quyển 6, thì chư Thiên ở cõi trời này rất vui sướng, đầy đủ mọi nhu cầu, tinh tiến tu tập Bát chính đạo, nên gọi là Đâu suất đà thiên. Thập địa kinh luận quyển 5 thì nói, hậu thân của Bồ tát giáo hóa cõi trời này, phần đông tu Hỉ túc, cho nên gọi là Hỉ túc thiên (cõi trời đầy đủ sự vui sướng). Cõi trời này có hai viện: 1. Đâu suất nội viện: Nơi ở của Bồ tát sắp thành Phật (Bồ tát Bổ xứ), nay là Tịnh độ của bồ tát Di lặc.

Ngài Di lặc hiện là Bồ tát Bổ xứ, đang thuyết pháp ở cõi trời này, khi đủ 4 nghìn năm sẽ sinh xuống cõi người và thành Phật dưới gốc cây Long hoa. Đức Phật Thích ca trước khi giáng sinh xuốngnhân gian, cũng là một vị Bồ tát ở cõi trời này. Truyền thuyết phổ thông cho rằng Nội viện có 49 viện.

Truyền thuyết này có lẽ đã căn cứ vào đoạn văn trong kinh Di lặc thướng sinh (Đại 14, 419 thượng): ... Ánh sáng của ngọc Ma ni này xoay tròn trong hư không hóa làm 49 lớp cung điện vi diệu mà ra. 2. Đâu suất ngoại viện: Viện này thuộc cõi Dục, là chỗ ở của Thiên chúng, hưởng thụ nhiều dục lạc. Chư thiên ở cõi trời này sống lâu khoảng 4nghìn năm, một ngày một đêm ở đây bằng 400 năm ở nhân gian.

Ngoài ra, chúng sinh ở cõi trời này, khi dục tình phát động thì chỉ cần nắm tay nhau là có thai, trẻ sơ sinh ở cõi trời này bằng đứa bé 8 tuổi ở nhân gian, 7 ngày thành người, thân cao bốn do tuần, nặng một lạng rưỡi. Ngoài ra, trong Mật giáo, vị Đâu suất thiên này được đặt ở phía tây bắc của viện Kim cương bộ ngoài trên Hiện đồ mạn đồ la Thai tạng giới. Hình tượng vị này thân mầu trắng, tay phải co lại để ở dưới ngực, 3 ngón giữa co lại, ngón út duỗi thẳng, cầm hoa sen búp; tay trái nắm lại (bắt Quyền ấn) chống vào cạnh sườn. Hai bên có thị nữ, thân cũng mầu trắng, tay phải đều cầm hoa sen búp. Chủng tử là (taô), hình tam muội da là hoa sen búp trên lá sen. [X. kinh Phổ diệu Q.1; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng].

[11]: Pháp thân Phật: tên gọi một trong 3 thân của Phật, gồm Pháp Thân, Báo Thân  và Ứng Thân. Với ý nghĩa là thân thể của chân lý (pháp), Pháp Thân là đương thể chân lý vĩnh viễn bất biến, là đức Phật lý tánh không sắc không hình, đem lại ý nghĩa mang tính nhân cách cho lý thể của chân như, còn được gọi là Pháp Thân Phật, Pháp Tánh Thân, Tự Tánh Thân, Như Như Phật, Như Như Thân, Đệ Nhất Thân, v.v. Đây là nhân cách hóa Phật tánh, tượng trưng cho Phật pháp tuyệt đối, chân lý không nơi đâu mà không hiện hữu, bao hàm khắp tất cả mọi nơi. Đức Phật là đấng giác ngộ, nên Pháp Thân là Giác Tánh (tánh giác ngộ), Báo Thân là Giác Tướng (tướng giác ngộ) và Ứng Thân là Giác Dụng (sự diệu dụng của giác ngộ).

Trong sách Di Dà yếu giải, đại sư Ngẫu Ích có viết: "Pháp Thân kép gồm Tự tánh Thanh tịnh Pháp Thân và Ly Cấu Diệu cực Pháp thân."

Như vậy có thể hiểu Tự tánh Thanh tịnh Pháp Thân là Tự tánh Di Đà và Ly Cấu Diệu cực Pháp thân là cõi Tây Phương Cực lạc. Vì Pháp thân kép chẳng lìa nhau nên Tự tánh Di Đà cũng chẳng lìa cõi Tây Phương Tịnh độ. Nên cũng chẳng thể có chuyện người tu chỉ cần nhận lấy Tự tánh Di Đà mà chẳng cầu sanh Tịnh Độ được.

Hơn nữa, Cưu Ma La Thập ( 344-413) có lập ra Tam Pháp Thân ( ba loại Pháp Thân), gồm Pháp Hóa Sanh Thân, Ngũ Phần Pháp Thân và Thật Tướng Pháp Thân. Pháp Hóa Sanh Thân là hóa thân Phật do pháp tánh hóa hiện; Ngũ Phần Pháp Thân là thân thể có 5 phần công đức như Giới, Định, Tuệ, Giải Thoát và Giải Thoát Tri Kiến. Thật Tướng Pháp Thân là thật tướng của các pháp vốn có tánh Không. Bên cạnh đó, cũng có Tam Pháp Thân do Thiên Thai Tông lập ra, gồm Không Pháp Thân ( Pháp Thân của Tiểu Thừa), Tức Giả Pháp Thân ( Pháp Thân của Đại Thừa Biệt Giáo) và Tức Trung Pháp Thân ( Pháp Thân của Đại Thừa Viên Giáo). Như trong Niệm Phật Khởi Duyên Di Đà Quán Kệ Trực Giải có giải thích về Pháp Thân rằng: “ Pháp Thân tức là thể của Như Lai Tạng Đại Niết Bàn, tâm sanh diệt mà diệt, thì tâm chơn như hiển hiện, tức gọi là Pháp Thân; thân này không quốc độ nào có thể đến, không quốc độ nào có thể đi, vốn là thân của Pháp Giới, biến khắp tất cả.”

[12]: Ba cõi tam thiên gồm 2 ý:

-Ba cõi: tức là cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

-Tam thiên: Một cõi đại thiên thế giới do một vị Phật xuất thế giáo hóa. Cứ một ngàn thế giới (có thuyết cho rằng một thế giới là một Thái Dương hệ) hợp thành một tiểu thiên thế giới, một ngàn tiểu thiên thế giới hợp thành một trung thiên thế giới, lại một ngàn trung thiên thế giới hợp thành một đại thiên thế giới. Vì tính lên đến ba lần một ngàn nên người ta quen gọi là tam thiên, nhưng thực ra về số lượng thì chỉ là một đại thiên thế giới, gồm 1.000.000.000 thế giới. Cách dịch cũ trước đây là “ba ngàn đại thiên thế giới” xem ra không được chính xác lắm.

Trong kinh Phật, một thế giới bao gồm có núi Tu Di ở chính giữa, bốn phía Đông Tây Nam Bắc mỗi phía đều có một châu tên gọi: Nam Thiệm Bộ Châu, Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu và Bắc Câu Lô Châu; cùng được một mặt trời, mặt trăng chiếu và rặng núi Thiết Vi bao quanh.

Như vậy ở đây Mặt Trời không phải là trung tâm, nên có thuyết cho rằng núi Tu Di là một "Lỗ đen", tuy nói là lỗ nhưng ở đó vật chất tích tụ dầy đặc khoa học chưa khám phá đến được.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 26
  • Khách viếng thăm: 23
  • Máy chủ tìm kiếm: 3
  • Hôm nay: 3702
  • Tháng hiện tại: 213826
  • Tổng lượt truy cập: 11864469