This is an example of a HTML caption with a link.

48 câu vấn đáp về Pháp môn Niệm Phật - 45

Đăng lúc: Thứ hai - 11/05/2015 20:33 - Người đăng bài viết: Ban Quản Trị
Nghi vấn thứ 45: Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Phật chỉ định các Đại Bồ tát, Đại A la hán nêu sự tu chứng viên thông của mình, trong đó có phép Niệm Phật tam muội của đức Đại Thế Chí và phép tu Nhĩ căn viên thông của đức Quán Thế Âm.
48 câu vấn đáp về Pháp môn Niệm Phật - 45

48 câu vấn đáp về Pháp môn Niệm Phật - 45

Sau đó ngài Văn Thù Sư Lợi nương sức oai thần của Phật mà tổng hợp tất cả ưu điểm, nhược điểm của các phép tu viên thông và tuyên dương phép tu Nhĩ căn viên thông của đức Quán Thế Âm là hợp với căn cơ chúng sinh Ta bà nhất, tại sao giờ lại nói rằng pháp Trì danh thích hợp nhất, chẳng phải bác lời của Pháp vương tử Văn Thù Sư Lợi, mà cũng chính là đi ngược với lời Phật dạy hay sao?

Đáp: Nơi đây cần suy xét kỹ.

Đó là vì pháp môn Niệm Phật nhiếp trọn 6 căn, tịnh niệm tương tục của đức Đại Thế Chí thuộc về phép Quán tưởng Niệm Phật vậy, lại còn chẳng có Tha lực là Đại nguyện của Phật A Di Đà; chẳng phải là pháp Trì danh ngày nay.

Tại sao nói như vậy? Vì ngài Đại Thế Chí tu pháp này hằng sa số kiếp về trước nơi đức Phật Vô Lượng Quang, chuyên niệm tưởng Phật như con nhớ mẹ, khắc sâu vào tâm niệm như hình với bóng mãi chẳng quên. Đó thuộc về phép Quán tưởng. Do vậy, ngài Tâm Minh Lê Đình Thám khi dịch kinh này (tức kinh Thủ Lăng Nghiêm) phán định phép tu này thuộc về viên thông Kiến Đại cũng hợp lý.

Hơn nữa, đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay mới được 10 đại kiếp hình thành nên thế giới Tây Phương Cực Lạc, khi đó pháp Trì danh đới nghiệp vãng sinh mới được hoàn thành trọn vẹn vậy.

Hiểu sâu hơn, pháp môn Trì danh về tự lực là sự hòa hợp viên dung của pháp Niệm Phật viên thông của đức Đại Thế Chí và pháp tu Nhĩ căn viên thông của đức Quán Thế Âm, như hai con sông lớn đổ về biển. Là bởi các ý sau:

Thứ nhất, là miệng niệm tai nghe: Âm thanh do căn lưỡi phát ra, căn tai nghe trọn vẹn, ấy là tu hai căn hòa hợp.

Thứ hai, tâm niệm tai nghe: Tâm niệm nhưng tai vẫn nghe rành rọt chẳng sót, ấy là ý và nhĩ căn hòa hợp.

Đó thật là xoay lại tự tánh, nghe lấy tánh nghe của mình. Vì sao vậy? Miệng niệm là có tiếng, tâm niệm là không tiếng; dù có tiếng hay không tiếng đều có thể nghe rõ Thánh hiệu A Di Đà Phật, đó là xoay lại nghe tánh nghe của mình vậy.

Thế nào là viên thông Nhĩ căn? Ban đầu ở trong tính nghe, nghe tiếng niệm Phật tương tục vào được dòng viên thông, không còn thấy tướng Sở nghe nữa, thêm lần đến năng nghe, sở nghe đều hết. Không dừng lại nơi đó tiến đến cái năng giác, sở giác cũng không, tức là chẳng còn thấy ai niệm Phật, đức Phật được niệm nữa. Không giác tột bậc viên mãn thì bản tính tịch diệt hiện tiền, khi đó gọi là Duy tâm Tịnh độ Tự tánh Di Đà, sáng suốt khắp mười phương.

Ở mỗi pháp môn Niệm Phật tam muội của đức Đại Thế Chí và pháp tu Nhĩ căn viên thông của đức Quán Thế Âm riêng rẽ đã là những pháp tu thượng thừa đốn giáo huống là hợp lại làm một ư?

Ấy là ở nơi tự lực còn thù thắng như vậy, lại được Đại nguyện vương của Phật A Di Đà, sức mình sức Phật sánh đôi như thuyền xuôi gió, chẳng khác gì hổ mọc thêm cánh, cá được hóa rồng vậy, lại là thù thắng trong thù thắng, nhiệm mầu trong nhiệm mầu.

Từ đây cũng chứng minh được rằng pháp Tín Nguyện Trì danh là Vô thượng pháp môn, là vua báu của pháp Niệm Phật hoàn toàn phù hợp với chúng sinh cõi Ta bà thời mạt pháp, tùy thuận theo muôn kinh vạn luận mà chẳng hề trái nghĩa vậy.

Pháp môn này dùng hữu niệm mà đạt lý Vô niệm, lấy sự cầu sanh mà được quả Vô sanh. Thế nào là Vô niệm? Tức niệm và vô niệm chẳng hai. Thế nào là Vô sanh? Tức sanh và vô sanh chẳng hai.

Đạt quả Vô sanh chẳng ngại gì sự thọ sanh, được lý Vô niệm cũng chẳng chấp có niệm. Thế nên Tổ Long Thọ chứng được bậc Sơ địa, thấy được lý Vô sanh mà lòng nguyện sanh chưa từng ngừng nghỉ, đạt được lý Vô niệm mà miệng niệm tâm niệm thánh hiệu Di Đà chẳng hề gián đoạn.

Cũng vì lẽ ấy, so với pháp Trì danh, quả thật pháp Quán tưởng và Quán tượng Niệm Phật chẳng hợp với căn cơ cõi Ta bà thời mạt này vì chẳng viên thông Nhĩ căn .

Thoạt nhìn thì thấy kinh Thủ Lăng Nghiêm như chê pháp môn Niệm Phật mà thật ra là tuyên dương đến tột bậc vậy.

Sở dĩ kinh A Di Đà thuộc loại Vô vấn tự thuyết, tức là chẳng đợi người hỏi mà đức Phật tự nói là vì đức Phật nói từ nơi Phật cảnh, nơi lời nói chẳng thể hỏi đến mà tùy theo trí thế gian diễn tả cảnh giới cõi Tây Phương, còn phàm phu chúng ta một mực dùng trí thế gian so đo nơi Phật cảnh, chẳng phải thật mê lầm hay sao?

Thế nên bậc Đại trí Xá Lợi Phất chẳng thể hỏi, chẳng thể đáp.

Chẳng phải ngài chẳng biết mà ngài biết nói chẳng thể đến; nghĩa giống như kinh Duy Ma Cật, ngài Văn Thù hỏi ngài Duy Ma Cật thế nào là pháp môn Bất nhị, ngài Duy Ma Cật lặng thinh không đáp mà ngài Văn Thù khen đó mới thật là vào pháp môn Bất nhị vậy.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 93
  • Khách viếng thăm: 88
  • Máy chủ tìm kiếm: 5
  • Hôm nay: 3557
  • Tháng hiện tại: 241465
  • Tổng lượt truy cập: 11892108