71. Niệm Phật đừng vội vàng nóng nảy, phải lóng định tâm tư, niệm chậm rãi hiệu Phật ra từ nơi tâm, phát thành tiếng nơi miệng, rồi lại vào nơi tai, tâm nghĩ, miệng niệm, tai nghe, cứ tuần hoàn như thế, tạp niệm sẽ dứt.
72.
Nên đem sáu chữ Nam mô A-di-đà Phật mà niệm. Khi niệm ghi nhớ rành rẽ, tiếng thứ nhất là Nam, tiếng
thứ nhì là mô, như thế đủ sáu chữ, liên hoàn không dứt, thì vọng niệm không còn
chỗ xuất sanh.
73.
Chúng sanh cùng ta đồng một bản thể, là cha mẹ của ta trong nhiều kiếp, là chư
Phật đời vị lai, nếu chẳng phát tâm cứu độ, chỉ cần giải thoát riêng mình, thì
đối với tình có chỗ chưa an, với lý có điều sơ sót. Huống chi chẳng phát đại
tâm, thì ngoài không thể cảm thông với chư Phật, trong không thể khế hợp tánh
chân, trên không thể tròn quả Bồ-đề, dưới không thể độ khắp muôn loài.
Như thế
làm sao báo bổ người ân nhiều kiếp, làm sao cởi mở oan gia nhiều đời, làm sao
thành tựu căn lành đã gieo trồng từ xưa, làm sao sám trừ tội nghiệp đã tạo ra
từ trước? Và như thế thì tu hành chỗ nào cũng gặp chướng duyên, dù có thành tựu
cũng là quả thấp, cho nên phải xứng tánh phát lòng Bồ-đề vậy.
-
Nhưng phát đại tâm, phải tu đại hạnh, mà trong tất cả hành môn, tìm phương pháp
dễ dụng công, mau thành tựu, rất yên ổn, rất viên đốn, thì không chi hơn dùng
Tín Nguyện sâu trì danh hiệu Phật. Nói chấp trì danh hiệu tức là giữ chắc hiệu
Phật nơi lòng không tạm quên. Nếu có một niệm gián đoạn, hoặc một niệm xen tạp,
thì không gọi là chấp trì.
Giữ được một niệm nối nhau không xen tạp, đó là chân
tinh tấn; tinh tấn mãi không thôi, sẽ lần vào cảnh nhất tâm bất loạn mà viên
thành tịnh nghiệp. Nhất tâm bất loạn là chỗ quy túc của tịnh nghiệp, là đại môn
của Tịnh độ; chưa vào môn này tất chưa yên ổn, học giả há chẳng nên cố gắng ư?
74.
Tâm đã hay tạo nghiệp thì cũng có thể chuyển nghiệp và nghiệp đã do tâm tạo,
tất cũng tùy theo tâm mà chuyển. Nếu tâm mình không chuyển được nghiệp, tức bị
nghiệp trói buộc, nghiệp không chuyển theo tâm thì có thể buộc tâm. Nhưng dùng
tâm thế nào mới chuyển được nghiệp? Ấy là giữ tâm hợp với đạo đức, hợp với
Phật. Và nghiệp làm sao buộc được tâm? Ấy là để tâm y theo đường lối cũ, buông
lung theo cảnh trần.
75.
Nghiệp đã tạo ra từ trước, đành đã lỡ rồi, chỉ trông mong có phát đại tâm để
biến chuyển; mà nắm giữ cơ quan ấy chính là ta chớ không ai khác. Nếu hôm nay
ta phát tâm niệm Phật cầu sanh Cực lạc để mau chứng quả, độ chúng sanh, giữ
niệm hiệu Phật nối nhau không dứt, lâu ngày tâm sẽ hiệp với đạo, thì chuyển
được quả báo Ta-bà thành Cực lạc, đổi nhục thai thành liên thai. Không bao lâu,
chính mình sẽ là một bậc thượng thiện, tướng tốt trang nghiêm, an vui tự tại
nơi cõi liên hoa thất bảo.
Như ta tu hành nửa chừng bỗng lần biếng trễ thối
lui, tất bị nghiệp lực mạnh mẽ từ kiếp trước sai sử, rồi vẫn y nhiên một kẻ
chịu vô lượng sự thống khổ về thân tâm ở cõi Ta-bà, không tránh khỏi bị đọa vào
địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh vậy. Những ai có chí thoát ly, cầu về Tịnh độ há
không nên sợ hãi, tỉnh ngộ, phát tâm phấn chấn tu hành ư?
76.
Lúc đi đứng ngồi nằm, uống ăn làm việc, câu niệm Phật vẫn thường hiển hiện. Nếu
gặp cảnh duyên phiền não, tâm không yên, chỉ nên chuyên niệm Phật, phiền não
liền tan mất. Bởi phiền não là cội gốc luân hồi, niệm Phật là thuyền vượt qua
biển khổ sanh tử. Muốn thoát sanh tử, chỉ đem câu niệm Phật phá tan phiền não,
đó là phương pháp đơn giản mà rất hay.
77.
Ðiều cần yếu nhất trong sự tu hành là tâm tha thiết về việc luân hồi sanh tử.
Tâm sanh tử không tha thiết, làm sao dám gọi là niệm Phật thành một khối? Nếu
người quả vì sự luân hồi mà tha thiết, thì mỗi niệm như cứu lửa cháy đầu, chỉ
theo khi mất thân người, muôn kiếp khó được.
Lúc ấy quyết giữ chắc câu niệm
Phật, quyết đánh lui vọng tưởng, trong tất cả thời, tất cả chỗ, hiệu Phật
thường hiện tiền, không bị vọng tình ngăn che lôi kéo. Dùng công phu khổ thiết
như thế, lâu ngày niệm sẽ thuần thục, tâm được tương ưng, tuy không hy cầu mà
niệm lực tự nhiên thành một khối.
78.
Hạnh thấp mà nói vọng đạo lý cao siêu không bằng kẻ chất phác mà giữ giới niệm
Phật.
79.
Nên giữ bổn phận, không nên tham cầu danh lợi, đừng chạy theo duyên ngoài, chỉ
cần phân minh lý nhân quả, một lòng chuyên niệm Phật mà thôi.
80.
Tánh háo kỳ, ưa cầu sự linh thông của ma quỷ, không bằng chánh tín nhân quả mà
niệm Phật.
81.
Người niệm Phật giữ lòng ngay, dứt hạnh ác, gọi là Thiện nhân. Người niệm Phật
nhiếp tâm trừ tán loạn, gọi là Hiền nhân. Người niệm Phật rõ tâm tánh, dứt hoặc
nghiệp, gọi là Thánh nhân.
82.
Trong lúc muôn niệm rối ren, chính là thời khắc dùng công phu, mỗi khi tán loạn
liền mau thâu nhiếp lại. Cứ như thế mãi, lâu ngày công phu thuần thục, tự nhiên
vọng niệm không sanh. Vả lại, người biết vọng niệm nhiều, là do niệm Phật, lúc
không niệm, vọng tâm như sóng nổi nước trào không giây phút nào dừng nghỉ, khi
ấy đâu có tự biết được.
83.
Tạp niệm là bệnh, niệm Phật là thuốc. Niệm Phật chính để trị tạp niệm, mà không
thấy hiệu quả là do dụng công chưa được chân thiết. Cho nên khi tạp niệm nổi
lên, phải chuyên lòng gia công niệm Phật, mỗi chữ, mỗi câu chuyên nhất không
xao lãng, thì tạp niệm tự dứt.
84.
Tâm hỗn loạn đã lâu, không thể một lúc mà an định được, cho nên người niệm Phật
nếu tâm không thanh tịnh đừng quá vội lo, chỉ cần khi niệm mỗi chữ mỗi câu đều
do nơi tâm phát ra, dụng công bền lâu tự có hiệu quả.
85.
Người niệm Phật, tâm chân thiết cùng không, có thể suy mà biết được. Ðại để như
người chân tâm niệm Phật, dù ở cảnh phiền não hay vui mừng cũng giữ câu niệm
Phật không gián đoạn, cho nên những cảnh ấy không làm lay động họ được. Hai
điều trên đã không thể làm lay động, thì đối với cảnh sống chết, họ vẫn tự
nhiên không sợ hãi.
86.
Người niệm Phật, bình thường niệm được không gián đoạn, nếu trong giấc ngủ
thoạt có quên niệm, khi thức dậy thống khóc, đến trước bàn Phật cúi đầu sám
hối, rồi quỳ niệm Phật một ngàn hay một muôn câu, dùng hết sức mình thì thôi.
Làm như vậy vài ba phen, dù trong lúc ngủ mê, câu niệm Phật vẫn hiện ra không
gián đoạn.
87.
Khi lâm chung được chánh niệm, toàn nhớ lúc thường nhật dụng công phu sâu.
88.
Niệm Phật không luận là hạng người nào, nếu nghĩ mình thuở bình sanh có nhiều
điều ác mà tự bỏ không chịu tu hành, là sai lầm!
-
Niệm Phật không quản thời gian nào, nếu cho rằng mình đã già sắp chết mà không
chịu tu hành, là sai lầm.
-
Niệm Phật, bất kỳ là phương pháp nào, nếu lập ra một quy củ nhất định, bắt mọi
người đều tin theo, khiến cho sự tu hành của họ bị chướng ngại, là sai lầm.
-
Nên biết pháp môn Tịnh độ chẳng lựa trí ngu, sang hèn, nghèo giàu, chẳng phân
nam nữ, già trẻ, tăng tục, chẳng luận kẻ huân tập đã lâu hay mới tu hành, đều
có thể niệm Phật.
-
Hoặc niệm lớn, niệm nhỏ, niệm ra tiếng, niệm thầm, đảnh lễ mà niệm, tham cứu mà
niệm, nhiếp tâm mà niệm, quán tưởng mà niệm, lần chuỗi mà niệm, giữ hiệu Phật
liên tục không dứt như dòng chảy mà niệm, cho đến đi đứng nằm ngồi niệm, ngàn
muôn niệm đều về một niệm.
-
Niệm theo cách nào cũng được, chỉ cần yếu giữ cho lâu bền đừng lui sụt và phát
lòng tin quyết định cầu sanh Tây phương. Nếu quả hành trì được như vậy, cần chi
tìm bậc tri thức hỏi đường.
-
Cho nên tu Tịnh độ có nhiều phương pháp, kết quả ra sao là do chỗ xu hướng của
tâm nguyện. Có thể gọi: “Ði thuyền cốt bởi người cầm lái, hiểu được đồng về cõi
Tịnh liên”.
89.
Niệm Phật chỉ nên để cho thân tâm nhàn đạm, thầm nhớ chẳng quên, khi hưỡn, gấp,
động, tịnh vẫn một niệm không khác. Niệm như thế, ngày kia xúc cảnh chạm duyên,
bỗng nhiên tỉnh ngộ. Chừng ấy mới biết cõi Tịch quang Tịnh độ không rời nơi
đây, Phật A-di-đà chẳng ngoài tâm mình. Nếu lập tâm muốn cầu tỏ ngộ, thì trở
lại thành chướng ngại, nên chỉ lấy lòng tin làm căn bản, chẳng tùy theo tạp
niệm mà thôi. Hành giả trì như thế, dù không tỏ ngộ, khi chết cũng được sanh về
Tây phương, theo giai cấp mà tiến tu, không còn lo thối chuyển.
90.
Người tu hành nếu bị túc nghiệp ngăn che, khiến cho nghiệp hạnh lui kém, phải
nhất tâm trì tụng chú vãng sanh. Chú này gọi là môn đà-la-ni, nhổ trừ tất cả
cội gốc nghiệp chướng, tụng một biến tiêu diệt hết tội ngũ nghịch thập ác trong
thân. Tụng mười muôn biến, được không quên mất Bồ-đề tâm; tụng hai mươi muôn
biến, liền cảm sanh mầm mộng Bồ-đề; tụng ba mươi muôn biến, Phật A-di-đà thường
trụ trên đảnh, quyết định sanh về Tịnh độ.