Những lời vàng về pháp môn niệm Phật (Phần 7 - Hết)
13.01.2010 15:40
91. Niệm Phật nên vận dụng thân miệng mà niệm, không kể đến tán hay định, chỉ làm sao cho câu Phật không hở dứt, tự sẽ được nhất tâm, hoặc cũng có thể gọi chính đó là nhất tâm. Nhưng phải niệm mãi không thôi, trạng như mẹ lạc con thơ, thì không còn lo chi tán loạn, không cần nhất tâm mà tự được nhất tâm. Chẳng nên cưỡng ép cho tâm quy nhất, vì dù cưỡng ép cũng không thể được, thật ra chỉ do người tu siêng năng hay biếng trễ mà thôi.
92.
Muốn cho khi sắp chết được chánh niệm vãng sanh, thì ngay bây giờ phải xét rõ
việc đời là huyễn mộng, tùy duyên an phận qua ngày, không còn tham luyến, được
rỗi rảnh lúc nào thì niệm Phật lúc ấy, đừng hẹn chờ lần lựa, hoặc để hư phí thì
giờ. Như thế thì tư lương ta đã dự bị xong, lúc ra đi mới không điều chi chướng
ngại.
93.
Thuyết chuyên tu vô gián của ngài Thiện Ðạo là: Vô gián tu là thân chuyên lễ
Phật A-di-đà không lễ tạp, miệng chuyên xưng hiệu A-di-đà không xưng tạp; ý
chuyên tưởng Phật A-di-đà không tưởng tạp.
94.
Muốn sanh về Tịnh độ, nên nghĩ tất cả việc đời là vô thường, có thành tất có
hoại, có sống ắt có chết, nếu ta không nghe Phật pháp thì phải chịu thay thân
này, đổi thân khác, trôi lăn trong ba cõi sáu đường, không biết lúc nào ra
khỏi. Nay ta đã có duyên được nghe chánh pháp, được tu tịnh nghiệp, nếu chuyên
niệm Phật thì khi bỏ thân này sẽ vào thai sen nơi cõi Phật, hưởng các điều vui,
thoát hẳn sự khổ, đi ngay đến nẻo Bồ-đề, ấy là chí sự thuở sanh bình của bậc
đại trượng phu vậy.
95.
Người niệm Phật, dù có bận làm việc này khác lăng xăng, nhưng trong tâm không ngớt
lo nghĩ đến câu niệm Phật. Nếu niệm có thất lạc phải thâu nhiếp lại, lâu ngày
thành thói quen, chừng ấy sự nhớ niệm được tự tại.
96.
Phép tu Tịnh độ không ngoài hai chữ chuyên cần, chuyên thì không thêm một việc
chi khác, cần thì không bỏ phí một giây. Lại phép trì danh, cần phải mỗi chữ,
mỗi câu, tâm và tiếng nương nhau, không xen lẫn một mảy niệm đời, lâu ngày
thành thục, quyết định được sanh về Cực lạc, ngồi tòa bảo liên, lên ngôi bất
thối.
97.
Tu môn niệm Phật, lắm lúc phải chọn lại năm bảy lần, mới tìm ra một phương pháp
thật thích hợp. Phương pháp nào trấn định được tâm cảnh, tiêu trừ được vọng
niệm thì là phương pháp hay nhất đối với mình. Cũng như đối với thầy thuốc,
phương thang nào chữa đúng căn bệnh là phương thang hay. Ðối với chúng sanh, vọng
niệm là căn bệnh, thuốc là danh hiệu Phật, hễ phương pháp nào trừ được căn bệnh
vọng niệm, ấy là phương pháp thiện xảo nhất, đừng câu nệ.
98.
Nên nhớ rằng TRÌ DANH là phương pháp tụng niệm của đường lối tu Tịnh độ. Ðó là
một điểm trọng yếu.
99.
Niệm Phật, hành giả vừa niệm vừa lắng tai nghe lại tiếng niệm của mình, từng
chữ một thật rõ ràng. Cứ vừa niệm vừa nghe như thế, trí óc sẽ không bị xao lãng
và tâm thần định được. Phương pháp này lại có tên là PHẢN VĂN NIỆM PHẬT, nghĩa
là niệm chữ nào trở lại nghe chữ ấy, chữ từ miệng lại trở về tai.
100.
Tu môn niệm Phật, cần phải vạch khóa trình và khi quyết định khóa trình, cần
phải tế nhị châm chước, dung hòa giữa hoàn cảnh và năng lực, thế nào cho thích
ứng mới được lâu dài và hữu hiệu.
101.
Với những hành giả đã huân tập được tịnh chủng khá thành thục, thì tự nhiên
phát ra những tiếng niệm Phật bất cứ lúc nào, cơ hồ như có một sức lực dõng
mãnh nào bên trong thúc đẩy, khiến cho hành giả hằng tiến không lùi. Trừ giấc
ngủ, bất luận ngày đêm, trong khi đi đứng nằm ngồi, không lúc nào, không chốn
nào là không niệm Phật. Như vậy, câu Nam mô A-di-đà Phật không lúc nào rời khỏi
miệng, lâu ngày thành tập quán. Ðây là nói sự niệm Phật thành tiếng.
102.
Niệm hay không niệm vẫn là niệm, là chỉ tâm niệm (tâm niệm nhớ nghĩ đến Phật).
Nói “niệm hay không niệm vẫn là niệm”, có nghĩa là bất kể miệng có niệm thành
lời hay không, luôn luôn trong tâm vẫn tưởng nhớ đến Phật, tức là vẫn có niệm
Phật.
-
Sở dĩ miệng phải niệm Phật là cốt nhắc trong tâm tưởng nhớ đến Phật. Giờ đây,
dù cho khi miệng không niệm mà tâm vẫn có tưởng nhớ, như thế cứu cánh của pháp
trì danh niệm Phật đã đạt được rồi vậy.
Như
vậy, quyết không còn một trần niệm ô nhiễm nào có thể đột nhập, khiến cho tâm
chao động được. Lúc ấy phép niệm Phật tam muội tự nhiên thành tựu, quả vãng
sanh không cầu mà tự đến.
103.
Nơi pháp môn niệm Phật, phương pháp thực hành rất giản tiện, mọi người có thể
tùy phần tùy sức mà hành đạo. Chỉ cần chỗ tu cho đúng pháp thời chắc chắn là
thành tựu cả, nên gọi là dùng sức ít, dễ thực hành và mau có hiệu quả. Tổ Thiện
Ðạo cho rằng nghìn người tu không sót một. Vĩnh Minh Ðại sư cũng công nhận là
mười người tu được cả mười.
104.
Hễ “đa từ thì tán tâm”. Tâm không định, trí không yên thì niệm Phật khó thành,
tam muội khó đắc. Vì vậy người chuyên tu tịnh nghiệp đôi khi cần phải định kỳ
kiết thất để tránh duyên, chỉ đêm ngày chuyên lo một câu niệm Phật, mới có hy
vọng kết quả phần nào. Ngoài ra, trong vòng tạp tu, tạp niệm khó mà thành tựu,
dầu cho có niệm cũng ít khi được thiệt niệm.
105.
Người tu tịnh nghiệp là người tu hành cởi mở cho kỳ hết những gì vướng vít cho
sự vãng sanh, nhất là sợi dây lợi dưỡng, để khi lâm chung ý chí được thảnh
thơi, tâm niệm chuyên chú về một việc “vãng sanh Tịnh độ”. Tâm không mảy bợn
nhơ, lòng không chút bám víu, chỉ nhất chí tưởng Phật, niệm Phật, tâm ta cùng
tâm Phật đồng nhất, như hai lằn điện tiếp nối nhau, đề huề về cảnh giới an vui,
tự tại và giải thoát.
106.
Muốn sanh về cõi tịnh, thì trước phải tịnh tâm, hễ tâm mình tịnh, tức là cõi
tịnh của Phật.
107.
Phải tin chắc pháp môn niệm Phật như tin những việc mặc áo quần cùng ăn cơm
vậy. Mặc áo khỏi lạnh, ăn cơm khỏi đói, niệm Phật khỏi sanh tử.
108.
Khi niệm Phật đã thuần thục, thì trong sáu trần chỉ có thinh trần, năng dụng
của sáu căn đều gởi nơi nhĩ căn, không còn biết thân mình đang vi nhiễu, lưỡi
mình đang uốn động, ý có phân biệt hay không, mũi thở ra hay vào, mắt mình nhắm
hay mở. Căn tức là trần, trần tức là căn, căn trần tức là thức, mười tám giới
dung hợp thành một giới.
109.
Khi đối trước tượng Phật, phải xem tượng ấy cũng như Phật thiệt, mắt nhìn tâm
niệm, cung kính chí thành. Lúc không ở trước tượng cũng nên thành kính cũng như
lúc đối trước Phật tượng. Niệm Phật như thế rất dễ cảm thông, nghiệp ác cũng
mau tiêu diệt.
110.
Khi gấp cảnh thuận nghịch, khổ vui, đắc thất, dơ sạch, tất cả trường hợp, cần
phải giữ một câu niệm Phật cho chắc. Nếu không như thế, tất bị cảnh chuyển,
hiệu Phật liền gián đoạn, há chẳng đáng tiếc lắm ư!
111.
Niệm Phật tam muội, tức là niệm Phật chánh định: Tâm và Phật hiệp nhất, Phật
cảnh hiện tiền.
112.
Cũng như Tịnh độ tông Trung Hoa, Tịnh độ tông Nhật Bản chủ trương rằng: “Trong
đời mạt pháp hiện nay, khó mà áp dụng pháp môn Thiền định là con đường của chư
Thánh, tức là con đường của những bậc đại căn đại trí, đủ đại hùng đại lực tự
giác ngộ, tự giải thoát”.
Tại
sao khó? Vì ngũ trược nặng nề, nhiều sự cám dỗ, chúng sanh khó mà sống một cuộc
đời bình dị, thanh tịnh để chiêm nghiệm, thấu suốt những giáo lý cao siêu của
Phật. Huống chi cách Phật đã lâu xa, còn ai đâu để đem khẩu giáo, thân giáo
chân chính dìu dắt mình một cách hiệu lực nữa! Bởi các cớ ấy, chúng sanh trong
đời mạt pháp này phải tự thú nhận rằng mình quá yếu đuối, quá mê mờ, quá thiếu
phương tiện và hùng lực để tự thức tỉnh và cởi mở cho mình, mà cần phải kêu gọi
đến pháp môn niệm Phật, nương nhờ vào từ lực cứu độ của Ðức Phật A-di-đà.
113.
Giáo tướng của Phật giáo chia ra làm hai môn là THÁNH ÐẠO MÔN và TỊNH ÐỘ MÔN.
Người tu về Thánh đạo môn, vì nương vào kinh điển, phát tự lực tu chứng nên khó
khăn. Người tu Tịnh độ môn, vì nương vào tha lực (Phật A-di-đà) nên tu chứng
được dễ dàng. Kết luận, hai ngài Long Thọ và Ðàm Loan khuyên mọi người nên tu
Tịnh độ là pháp môn duy nhất thích ứng với căn cơ của chúng sanh ở thời mạt
pháp.
114.
Hễ trong giờ phút lâm chung mà được thanh tịnh, thì bất luận là ai, cũng đều
được vãng sanh tất cả. Trái lại, giả sử cả đời tu hành, nhưng đến giờ phút lâm
chung mà còn luyến tiếc, nghi ngờ, rối loạn, thì không thể nào vãng sanh được.
Cho nên những bậc thiện tri thức và ban hộ niệm không thể vắng mặt trong giờ
phút “thiên thu vĩnh biệt” mà dù là Phật tử hay không Phật tử, nếu người ấy
muốn có một cuộc đời hạnh phúc vĩnh cửu sau khi bỏ đời này qua đời khác.
-
Nhưng ỷ lại vào thiện tri thức không bằng tự trông cậy vào mình, cầu Phật lúc
lâm chung không bằng thường xuyên hằng ngày vậy.
115.
Dưới đây là mười điểm thiết yếu của môn niệm Phật hay của người tu pháp niệm
Phật:
1.-
Niệm Phật phải vì thoát sanh tử.
2.-
Niệm Phật phải phát lòng Bồ-đề.
3.-
Niệm Phật phải dứt trừ lòng nghi.
4.-
Niệm Phật phải quyết định nguyện vãng sanh.
5.-
Niệm Phật phải hành trì cho thiết thật.
6.-
Niệm Phật phải đoạn tuyệt phiền não.
7.-
Niệm Phật phải khắc kỷ cầu chứng nghiệm.
8.-
Niệm Phật phải bền lâu không gián đoạn.
9.-
Niệm Phật phải an nhẫn các chướng duyên.
10.-
Niệm Phật phải dự bị lúc lâm chung.
116.
Phật giáo đồ ở Nhật Bản có truyền thoại là “Mật tông và Thiên Thai tông để cho
hàng quý phái, Thiền tông cho võ sĩ đạo và Tịnh độ tông cho hạng bình dân” mà
bình dân là hạng chiếm đa số.
Xem
thế thì biết ở các xứ Bắc tông Phật giáo, những người xưng niệm danh hiệu Phật
A-di-đà chiếm phần tối đa.
117.
Có một bí quyết, khẩn thiết bảo nhau: HẾT LÒNG THÀNH KÍNH, nhiệm mầu, nhiệm
mầu!
Khi làm việc lành chi, dù nhỏ nhặt cũng nên chắp tay đối trước Phật hoặc hướng
về Tây, đọc bài kệ hồi hướng:
Nguyện
đem công đức này
Cầu
bốn ân, ba cõi
Con
cùng với chúng sanh
Ðồng
sanh về Cực lạc.
|