7. Ngũ niệm môn Đại sư Đàm Loan thời Bắc Ngụy được tôn là thủy tổ tu pháp Tịnh độ tại Trung Quốc có chú thích “Vãng sinh luận” của Bồ tát Thế Thân, giải thích Ngũ niệm môn của Bồ tát Thế Thân chủ trương như sau:
1. Lễ bái môn: Trong tâm nguyện sinh về cõi nước an lạc, cần phải lễ bái Phật A
Di Đà.
2. Tán thán môn: Xưng niệm danh hiệu Tận Thập Phương Vô Ngại Quang Như Lai (tên
khác của Phật A Di Đà)
3. Tác nguyện môn: Như thật tu hành Xa Ma Tha (tu chỉ).
4. Quán sát môn: Như thật tu hành Tỳ Bà Xá Na (tu quán).
5. Hồi hướng môn: Đem tất cả công đức căn lành có được, vì muốn bạt trừ tất cả
khổ của chúng sinh, mà nguyện nhiếp thủ họ đồng sinh về cõi nước an lạc.
Phương pháp niệm Phật ngũ niệm môn này kỳ thật là: lễ bái đức Di Đà tin nguyện được
vãng sinh, xưng danh niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, phát tâm Bồ đề quảng độ
chúng sinh.
8. Ngũ phương tiện niệm Phật môn
Ngũ phương tiện niệm Phật môn của đại sư Trí Khải tông Thiên Thai triều Tùy
giới thiệu tu pháp niệm Phật môn như sau:
1. Xưng danh vãng sinh niệm Phật tam muội môn: Hành giả lúc miệng xưng Nam mô A
Di Đà Phật, tâm phải nguyện sinh về Tịnh độ nước Phật. Môn này là vì chúng sinh
thích xưng danh hiệu Phật mà nói.
2. Quán tướng diệt tội niệm Phật tam muội môn: Hành giả tưởng hình tượng Phật
chuyên chú không thôi, bèn được thấy Phật, các tội chướng đều được tiêu diệt.
Môn này là vì người ưa thích thấy thân Phật, lo sợ tội chướng mà nói.
3. Chư cảnh duy tâm niệm Phật môn: Hành giả
quán tưởng thân Phật là từ tự tâm sinh khởi, không có cảnh giới nào khác. Môn
này là vì người tâm mê chấp cảnh mà nói.
4. Tâm cảnh câu ly niệm Phật môn: Hành giả quán tưởng tâm này, cũng không phải
tự mình có thể được. Môn này là vì người hay suy tính tự tâm thật có mà nói.
5. Tính khởi viên thông niệm Phật tam muội môn: Hành giả lúc này vào sâu định
vắng lặng, sắp nhập Niết bàn, nương nhờ vào sự gia bị hộ niệm của chư Phật mười
phương, hưng khởi công năng trí tuệ, trong khoảng một niệm thanh tịnh cõi nước
của Phật, thành tựu chúng sinh. Môn này là vì người ưa thích định vắng lặng
nhập cảnh giới Niết bàn mà nói.
Ngũ phương tiện niệm Phật môn đã nêu trên, thứ nhất là xưng danh niệm Phật, thứ
hai là quán tướng niệm Phật, thứ ba và thứ tư là nhân hành và quả cảnh của thật
tướng niệm Phật, thứ năm là phát đại Bồ đề tâm.
Đại sư Trí Giả từ trong văn này, đặc biệt cường điệu: “Nếu dùng một lời nói mà
đầy đủ các môn, thì không gì qua niệm Phật”. Lại nói: “Nếu lúc niệm Phật, nên
biết người này, cùng với đức Văn Thù Sư Lợi không có khác biệt”.
9. Pháp tu trì niệm Phật tam muội
Trong Đại Tạng Kinh, giới thiệu kinh luận về niệm Phật tam muội và các trứ
thuật của lịch đại Tổ sư tương đối nhiều, chẳng hạn như: Ban Chu tam muội trong
kinh Ban Chu Tam muội, kinh Đại A Di Đà quyển hạ, phẩm Nhập pháp giới trong
kinh Hoa Nghiêm dịch đời Tấn, Nhất hạnh tam muội trong kinh Văn Thù Sư Lợi sở
thuyết Ma ha Bát nhã Ba la mật, Đại Trí Độ Luận quyển 21, Thập Trụ Tỳ Bà Sa
Luận quyển 12, Tư Duy Lược Yếu Pháp, Nhiếp Đại Thừa Luận quyển hạ, Ngũ Phương
tiện niệm Phật môn của Trí Khải tông Thiên Thai, Hoa Nghiêm Kinh Hạnh Nguyện
phẩm Biệt hành sớ sao quyển 4 của Ngũ Tổ Tông Mật tông Hoa Nghiêm, An Lạc Tập
quyển hạ của Đạo Xước, Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận quyển 7 của Hoài Cảm.
Y cứ theo các tư liệu trên thì tu pháp niệm Phật tam muội phải đầy đủ: 1. Phải
có chỗ nhất định, kỳ hạn nhất định; 2. Phải có tín nguyện vãng sinh cõi Phật;
3. Phải dùng tâm chí thành thường niệm Phật không dứt; 4. Niệm Phật phải có thứ
lớp tiến dần, có thể chia làm bốn cấp:
1. Xưng danh niệm Phật: Buông bỏ các ý tạp, mỗi tiếng mỗi câu, niệm niệm tương
tục, miệng niệm danh hiệu Phật, tâm buộc vào tiếng niệm Phật.
2. Quán tượng niệm Phật: Buông bỏ các tạp ý, niệm niệm quán sát 32 tướng 80 vẻ
đẹp của thân hình đức Phật, phóng ra ánh sáng lớn, ở trong chúng nói pháp.
3. Quán tưởng niệm Phật: Buông bỏ các ý tạp, niệm niệm hướng tâm về cõi nước
của Phật, quán tưởng y chính trang nghiêm của Tịnh độ Phật quốc, cùng tất cả
công đức pháp thân, bi trí giải thoát của Phật, Bồ tát và La hán.
4. Thật tướng niệm Phật: Buông bỏ các ý tạp, không giữ tướng mạo trong ngoài, niệm
niệm tương tục, quán tưởng thể nghiệm, tâm Phật chúng sinh, tất cả các pháp,
thật tướng vô tướng, chân tâm vô tâm, chẳng không chẳng có, tức không tức có, chân
tục không hai, vạn pháp bình đẳng.
Bốn thứ lớp nêu trên, hàng phàm phu tốt nhất nên từ xưng danh niệm Phật khởi tu,
nếu được thân tâm an ổn tiến tu tầng cấp thứ hai, thứ ba, cho đến thật tướng
niệm Phật thì tương đương với minh tâm kiến tánh của Thiền tông. Cần phải tiêu
trừ nghiệp chướng, thân tâm an ổn, không sinh phiền não nhân ngã mới có thể tu
trì được, trái lại chỉ luống công nhọc mệt, lại còn tự dối mình dối người. Làm
thế nào để tiêu trừ nghiệp chướng? Xưng danh niệm Phật, lễ bái, sám hối, phát
tâm Bồ đề là phương pháp tốt nhất.
Tuy nhiên, đại sư Ấn Quang thời gần đây cho rằng người hạ căn ở thời đại mạt
pháp này, trong bốn loại niệm Phật nói trên, thật tướng niệm Phật là pháp môn
khó trong khó. Thế nhưng, đời Minh Thanh, vẫn có không ít Tăng tục đại đức,
chuyên tu niệm Phật tam muội như đại sư Liên Trì (Vân Thê Châu Hoằng) cuối đời
Minh, ngài Tỉnh Am (Thật Hiền) triều Thanh đều từng khắc kỳ tu trì niệm Phật
tam muội, lấy 100 ngày làm kỳ hạn.
Đại sư Liên Trì từng nói: “Một câu A Di Đà
Phật, gồm đủ tám giáo, viên nhiếp năm tông, nên biết niệm Phật tam muội tức là căn
nguyên một đời giáo hóa của Phật”. Lại đem trì danh niệm Phật chia làm: 1. Minh
trì, niệm ra tiếng; 2. Mặc trì, niệm không ra tiếng; 3. Bán minh bán mặc trì
(giống như Kim Cang trì của Mật tông) niệm hơi khẽ động môi. Hoặc ký số niệm,
hoặc không ký số niệm đều được.
Đại sư Liên Trì lại chủ trương chấp trì danh hiệu trong kinh A Di Đà. Chấp là nghe
danh hiệu, trì là nhận và giữ lấy danh hiệu Phật, không lúc nào quên, mà chấp
trì này cũng có thể chia ra:
1. Sự trì, nhớ niệm không gián đoạn.
2. Lý trì, thể cứu không gián đoạn. Cùng cực của chấp trì là được nhất tâm,
cũng có thể chia làm: 1. Sự nhất tâm, tức là nghe danh hiệu Phật, thường nhớ
thường niệm, chữ chữ phân minh, tương tục không dứt, chỉ có một niệm này; 2. Lý
nhất tâm, nghe danh hiệu Phật, không chỉ nhớ niệm, mà còn nên phản quan, xem
xét tỉ mỉ, nguồn gốc sâu xa, nơi bản tâm mình, hốt nhiên được khế hợp.
Còn đại sư Ngẫu Ích thì giải thích chấp trì danh hiệu là chấp trì danh hiệu
Phật A Di Đà đạt đến chỗ nhất tâm bất loạn. Nếu có thể niệm niệm hằng nhớ danh
hiệu Phật tạm không lúc nào quên gọi là chấp trì. Cũng có thể chia làm hai giai
đoạn:
1. Sự trì, chưa đạt được lý tâm này là Phật, tâm này làm Phật như trong kinh
Quán Vô Lượng Thọ đã nêu.
2. Lý trì, tin đức Phật A Di Đà ở phương Tây trong tâm ta vốn đủ, là do tâm ta
tạo, đem danh hiệu vốn đầy đủ trong tâm mình mà làm cảnh để buộc tâm, khiến cho
tạm không quên. Nếu từ chỗ hàng phục được phiền não cho đến kiến hoặc tư hoặc
trừ hết, đều gọi là sự nhất tâm, nếu niệm đến chỗ tâm khai, thấy được bản tánh
Phật, đều gọi là Lý nhất tâm. Ngài không đồng ý cái lý thể cứu của đại sư Liên
Trì, vì cho rằng lý nhất tâm đem làm phương pháp thể cứu niệm Phật hoặc tham cứu
niệm Phật, chẳng qua là một loại phương tiện nhiếp Thiền tông về Tịnh độ mà
thôi.
Trên sự thật đại sư Liên Trì dựa vào kinh nghiệm tu thiền mà đem lý nhất tâm và
lý trì, giải thích cho là minh tâm kiến tánh của Thiền tông. Đại sư Ngẫu Ích
thì từ trên lý luận phân biệt thuyết minh Thiền là Thiền, Tịnh độ là Tịnh độ,
không nên lẫn lộn. Lời pháp của đại sư Liên Trì là từ sự kết hợp thể nghiệm tu
chứng và luận điểm Thiền Tịnh, mà đưa ra pháp môn tu niệm Phật như thế nào để
không trái với pháp môn tu Thiền.
Lại do đại sư Trí Giả tông Thiên Thai từng nói: “Có bốn loại tam muội (thường
đi, thường ngồi, nửa đi nửa ngồi, chẳng đi chẳng ngồi), đồng gọi là niệm Phật
tam muội, niệm Phật tam muội là vua trong tam muội”.
Vì thế, đại sư Ngẫu Ích
cuối đời Minh cũng nói: “Niệm Phật tam muội gọi là Bảo Vương tam muội, là vua
trong tam muội”, còn cho rằng niệm Phật Tịnh độ của phái Lô Sơn là niệm tha
Phật (Phật ngoài), còn Đạt Ma truyền lại là niệm tự Phật (Phật chính mình),
phái của Vĩnh Minh Diên Thọ là niệm tự tha Phật lý sự song tu, Thiền Tịnh đều
đủ. Chẳng qua bản thân của đại sư Ngẫu Ích chưa điều lý được phương pháp thật
tiễn của niệm Phật tam muội, Ngài từ chỗ tổng hợp quan điểm của các nhà Thiền
Tịnh lại mà nói.
Tóm lại, niệm Phật tam muội là Bảo Vương tam muội, vua trong tam muội. Chúng ta
nên khuyến khích hành giả tịnh nghiệp nên tu hành theo pháp niệm Phật này. Hành
pháp 90 ngày theo Ban Chu tam muội thì phải thường đi, không nằm, không ngồi,
không được nghỉ, đối với người bình thường mà nói rất khó mà hành trì được.
Nhưng ở vào thời đại của đại sư Liên Trì từng khích lệ không ít cư sĩ tu hành niệm
Phật tam muội đạt được kết quả, cũng lấy 90 ngày làm kỳ hạn.
Do đó, nên đem bốn cấp tu pháp niệm Phật tam muội như đã nêu trên, phối hợp với
kỳ hạn 90 ngày để tu tập rất thích hợp.
10. Niệm Phật lớn tiếng (cao thanh niệm
Phật)
Xưng danh niệm Phật lại còn gọi là trì danh niệm Phật, xưng danh cần dùng
miệng niệm ra tiếng, trì danh hoặc có thể ra tiếng cũng có thể niệm thầm, hoặc
có thể khẽ động môi. Xưng danh niệm Phật tại Trung Quốc thực hành đã lâu. Đại
sư Phi Tích đời Đường có soạn quyển Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương Luận.
Trong
quyển Trung của luận này đặc biệt đề xướng phương pháp “niệm Phật lớn tiếng”.
Tiếng vang của âm thanh niệm Phật được hình dung là “tiếng vang dội thôn xóm,
chấn động cả núi rừng”. Xét về lý thì phương pháp niệm Phật lớn tiếng có năm
đặc điểm như sau:
“Điều cốt yếu của sự nhiếp tâm hay tán loạn chính là ở âm thanh. Sự phát thanh
mà không cố gắng dụng công thì tâm thức sẽ nông nổi, hời hợt, phiêu dạt khó có
thể kiên định được. Nếu khi phát thanh mà cố gắng dụng công âm thanh dìu dặt,
đôn đốc nhau, sau đó đạt đến chỗ dốc cạn hết bình sinh, buông xả bao phiền
muộn.
Đó là đặc điểm thứ nhất, nếu nói một cách đơn giản trước mắt thì khi âm
hưởng của câu niệm Phật rền trong tâm khảm, muôn ngàn tai họa thảy tiêu trừ,
công đức tu hành vòi vọi như đỉnh tùng trên Thiên lãnh. Đó là đặc điểm thứ hai.
Nếu nói xa hơn nữa, niệm Phật lớn tiếng có thể chiêu cảm từ quang rạng ngời
chiếu diệu, tầng không hoa báu như mưa, tất cả đều nhờ âm thanh mà cảm được như
thế.
Đó là đặc điểm thứ ba. Lại nữa, giống như người lăn đá, hòn đá quá nặng
không dễ gì nhích tới được. Nếu họ hét to lên một tiếng thì có thể nhấc lên dễ
dàng hơn. Đó là đặc điểm thứ tư. Khi cùng chiến đấu với ma quân, cờ xí phất
phới, tiếng chiêng vang vọng, dùng thanh thế hiên ngang để phá tan cường địch.
Đó là đặc điểm thứ năm.
Đầy đủ năm nghĩa này thì còn sợ gì nữa? Nếu không thể
song toàn ở hai trạng thái tĩnh và động thì song tu chỉ quán, hiệp với Phật ý
há chẳng được sao? Khi định huệ quân bình thì đó chính là Phật tâm bặt hết năng
sở?
Ngài Phi Tích cường điệu niệm Phật lớn tiếng có năm nghĩa, chứng minh công năng
kỳ diệu của tiếng, có thể định được tâm, trừ lo âu, tiêu tai họa, nhấc vật
nặng, hàng phục ma, thậm chí đạt được trình độ thật tướng niệm Phật, chỉ quán
song vận, định tuệ ngang nhau, tâm Phật đều quên v.v…
11. Niệm Phật ngũ hội
Đại sư Pháp Chiếu triều Đường y cứ vào kinh Vô Lượng Thọ quyển thượng, có
soạn một quyển “Tịnh độ ngũ hội niệm Phật lược pháp sự nghi tán”, đề xướng niệm
Phật ngũ hội.
“Hoặc có cây báu, xa cừ làm gốc, vàng tía làm thân, bạch ngân làm nhánh, lưu ly
làm cành, thủy tinh làm lá, san hô làm hoa, mã não làm quả. Hàng cây trồng đều
nhau, thân đối với nhau, cành có khoảng cách đều nhau, lá cùng hướng, hoa trổ
có thứ lớp, quả ra đều đặn, sắc tươi tỏa sáng, nhìn không thể xiết, gió thường
nổi lên, phát ra năm thứ tiếng, cung thương vi diệu, hòa hợp tự nhiên”.
Lại kinh A Di Đà cũng miêu tả các thứ động thực vật trong nước Cực lạc giống
như kinh Vô Lượng Thọ như: “Gió nhẹ thổi động các hàng cây báu, và lưới báu,
phát ra tiếng vi diệu, ví như trăm ngàn thứ nhạc, phát ra cùng lúc, người nghe
âm thanh này đều sinh tâm niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng”. Đại sư Pháp Chiếu dựa
theo đây mà đề xướng phát minh phương pháp niệm Phật ngũ hội.
Kỳ thật trong kinh chỉ nói: “Phát ra năm thứ tiếng” là chỉ cho “cung, thương,
giốc, chủy, vũ” loại âm nhạc xưa dùng để phổ nhạc, chứ không có ý là ngũ hội.
Ý của ngài Pháp Chiếu sử dụng ngũ hội có nghĩa là: “Ngũ là số, hội là tập họp.
Năm loại âm thanh ấy từ hưỡn đến gấp, chỉ niệm Phật Pháp Tăng, không có tạp
niệm, niệm tức là không niệm, Phật không có hai môn, tiếng thì vô thường là đệ nhất
nghĩa”. Ngài lại nói: “Người nghe âm thanh ấy được vào sâu pháp nhẫn, trụ nơi
bất thối chuyển, cho đến thành Phật đạo”.
Đủ biết niệm Phật ngũ hội chính là dùng năm thứ âm phổ nhạc niệm Phật, trầm bổng,
ngừng ngắt hưỡn gấp, khiến cho người niệm Phật không đến nỗi rơi vào hôn trầm
tán loạn, mà còn tùy theo tiết tấu âm nhạc, sản sinh cảm giác thú vị khiến cho
tâm thần an định và vui vẻ. Nếu có thể chuyên tinh trì danh niệm Phật liên tục
cũng có thể hoàn thành niệm Phật tam muội. Ngũ hội là theo thứ tự từng giai
đoạn niệm Phật, tiến hành theo phương pháp như sau:
Hội thứ nhất, niệm chậm tiếng bình Nam mô A Di Đà Phật.
Hội thứ hai, niệm chậm tiếng cao Nam mô A Di Đà Phật.
Hội thứ ba, niệm không chậm không nhanh Nam mô A Di Đà Phật.
Hội thứ tư, niệm nhanh dần Nam mô A Di Đà Phật.
Hội thứ năm, chuyển niệm nhanh bốn chữ A Di Đà Phật.
Thật ra, phương pháp niệm Phật của các tự viện tại Trung Quốc hiện nay, trên
đại thể đều áp dụng giống như niệm Phật ngũ hội này, chẳng qua có đôi chút khác
biệt mà thôi. Có một số nơi tổ chức tương đối khá, khiến người ta đến tham dự
cộng tu niệm Phật, cảm được trạng thái an lạc và mát mẻ.
Thế nhưng, hiện nay
tại Đài Loan cũng có phổ thành nhạc khúc, do niệm Phật ngũ hội đệm nhạc cụ vào,
khiến cho người nghe có cảm giác thư thái nhẹ nhàng, hưng phấn đầy đạo vị,
nhưng dường như lại đánh mất đi phong cách Phạm Ca, khiến cho người ta rất khó
thành tựu được niệm Phật tam muội.
12. Niệm Phật ký số mười niệm
Đại sư Ấn Quang năm đầu Dân Quốc, là vị Tổ sư vĩ đại sau cùng hoằng dương
Tịnh độ Di Đà tại Trung Quốc cho đến nay, trong Ấn Quang Đại Sư Văn Sao, có một
chương “chỉ bày phương pháp tu trì”, rất thực dụng đối với người tu tịnh
nghiệp, mà Ngài đã đặc biệt khai thị về phương pháp niệm Phật. Độc giả nên tìm
đọc để hiểu thêm. Hiện tại, chỉ rút ra hai loại phương pháp niệm Phật mà người
niệm Phật hiện nay đều có thể ứng dụng được:
1. Pháp môn mười niệm: Nếu vì công việc đa đoan, không có cách gì sinh hoạt
theo thời khóa công phu sớm tối như tự viện được, nên vào lúc sáng sớm thức dậy
súc miệng xong, lễ Phật ba lễ, ngồi ngay thẳng chắp tay, niệm Nam mô A Di Đà
Phật, dứt một hơi là một niệm, niệm đến mười hơi, rồi niệm văn Tịnh độ ngắn,
hoặc chỉ niệm bốn câu kệ: “Nguyện sinh Tây phương Tịnh độ trung, cửu phẩm liên
hoa vi phụ mẫu, hoa khai kiến Phật ngộ vô sinh, bất thối Bồ tát vi bạn lữ”.
Niệm xong lễ Phật ba lạy là hoàn thành công khóa pháp môn mười niệm buổi sáng.
Nếu không có tượng Phật thì xoay mặt về hướng Tây xá ba xá. Pháp này do ngài
Tuân Thức triều Tống sáng lập, vì đương thời vua quan quá bận rộn với việc
triều đình nên Ngài mới soạn ra phương pháp này. Pháp này có thể giúp cho tâm
gom về một chỗ, nhất tâm niệm Phật, quyết định được vãng sinh.
2. Pháp môn niệm Phật ký số mười niệm: Nhiều người niệm Phật thích dùng chuỗi
hạt dài hoặc ngắn để ký số, thế nhưng đại sư Ấn Quang dạy hành giả tịnh nghiệp
ký số mười niệm là không nên lần hạt, chỉ dùng tâm ghi nhớ.
Đại sư Ấn Quang nói: “Ký số mười niệm là dùng sức toàn tâm để vào một tiếng
Phật… đây là diệu pháp cứu cánh nhiếp tâm niệm Phật, các vị hoằng dương pháp
môn Tịnh độ xưa kia chưa từng nói đến”. Ngài lại nói: “Bậc lợi căn thì không
phải nói, như đối với hàng độn căn chúng ta, bỏ qua pháp ký số mười niệm này,
muốn nhiếp được sáu căn, tịnh niệm nối luôn, thật là khó lắm”.
Ngài lại nói: “Cái
mầu nhiệm của pháp này là thực hành nhiều thì hiệu nghiệm nhiều”. Thế nào
là ký số mười niệm? Tức là đang lúc niệm Phật, từ khi xưng niệm câu thứ nhất
Nam Mô A Di Đà Phật đến câu thứ mười Nam Mô A Di Đà Phật, mỗi lần xưng niệm một
câu phải niệm cho được rõ ràng, ghi nhớ cho được rõ ràng, niệm cho đến mười câu
là hoàn tất, rồi lại ký số niệm Phật từ câu thứ nhất đến câu thứ mười, cứ như
thế dứt mười câu rồi lại niệm từ một đến mười.
Nếu suốt mười câu thấy khó nhọc thì có thể chia làm hai hơi, từ 1 đến 5, từ 6 đến
10. Nếu lại tổn sức thì chia làm ba hơi, từ 1 đến 3, từ 4 đến 6, từ 7 đến 10.
Xưng niệm danh hiệu Phật như thế, niệm cho được rõ ràng, nghe cho được rõ ràng,
vọng niệm sẽ không còn chỗ đứng, lâu dần sẽ tự nhiên đạt được nhất tâm bất
loạn.
Phương pháp ký số mười niệm này, lúc tôi hướng dẫn tu thiền và phương pháp niệm
Phật cũng thường giới thiệu cho những học giả mới, những người tu thiền nếu tu
pháp sổ tức thấy khó thì nên dùng pháp ký số mười niệm này rất là thuận lợi.
Cho nên, bản thân tôi cũng rất cảm ân đại sư Ấn Quang đã phát minh ra diệu pháp
niệm Phật ký số mười niệm này.