Luận Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội - Phần 2 - Hết
02.07.2010 14:56
Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm ghi các bài kệ tụng của các vị Bồ tát và Trời, Rồng, quỷ thần ở khắp mười phương, mỗi vị đều nói ra pháp môn của mình chứng đắc, rồi dùng quả địa Như Lai phát khởi tín giải cho người để họ nhập vào Niệm Phật Tam muội.
03. Niệm
danh tự Phật để thành tựu phương tiện hay nhất
Pháp thân không có hình tướng, giả mượn danh tự để
trình bày. Báo thân và hóa thân vô biên nhờ danh tự mà được biết đến đầy đủ.
Bài kệ tán trong phẩm Tu di:
“Thà chịu khổ địa ngục
Được nghe danh tự Phật
Không hưởng vô lượng vui
Không nghe danh tự Phật”.
Sở dĩ trong vô số kiếp ở đời quá khứ, chịu khổ trôi
lăn trong sinh tử vì chẳng được nghe danh tự Phật. Chỉ cần nghe được danh tự Phật
là đã trồng nhân tốt, huống chi luôn luôn niệm liên tục.
Như trong kinh Văn thù Bát nhã ghi: “Muốn nhập Nhất Hạnh
Tam muội, phải ở nơi vắng vẻ, bỏ các loạn tưởng, chẳng chấp tướng mạo, buộc tâm
vào một đức Phật, chuyên xưng danh tự, tùy theo Phật ở hướng nào, ngồi thẳng
quay mặt về hướng ấy buộc niệm tương tục vào một đức Phật, thì ở trong niệm đó
thấy được các đức Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Vì sao? Vì công đức niệm một
đức Phật bằng công đức niệm vô lượng đức Phật”.
Kinh A di đà cũng lấy chấp trì danh hiệu làm chánh
nhân vãng sinh. Cho nên biết công đức của danh tự không thể nghĩ bàn.
Như bài kệ tán trong phẩm Đâu suất:
“Lấy Phật làm cảnh giới
Chuyên niệm không ngừng nghỉ
Người này được thấy Phật
Số Phật bằng với tâm”.
Phẩm Hiền Thủ nói:
“Nếu thường niệm Phật, tâm bất động
Ắt thường trông thấy vô lượng Phật
Nếu thường trông thấy vô lượng Phật
Ắt thấy Như Lai thể thường trụ”.
Bài kệ trước luận về trì danh nên nói “số”, bài kệ sau
gồm cả báo thân và hóa thân để thấu suốt pháp thân nên nói “vô lượng”. Tuy
nhiên, mọi người chỉ biết số hữu lượng mà không biết số siêu việt lượng, biết
danh tự của tức số mà chẳng biết danh tự của siêu việt số, biết danh tự của
siêu việt số nên suốt ngày niệm mà chưa từng niệm, biết số của siêu việt lượng
nên niệm một đức Phật tức gồm hết tất cả Phật.
Phẩm Tùy Hảo Quang Minh ghi: “Như ta nói ngã mà chẳng
chấp ngã, chẳng chấp ngã sở. Tất cả chư Phật cũng vậy, tự nói là Phật nhưng chẳng
chấp ngã và ngã sở”.
Nhưng người mới vào môn này ắt phải dựa vào số, hằng
ngày cần phải hạn định khóa trình, từ một đến vạn, từ vạn đến ức, niệm chẳng rời
Phật, Phật chẳng khác tâm, như trăng ở trong nước mà trăng chẳng phải ở trong
nước; như xuân ở tại cành hoa mà xuân chẳng phải ở ngoài cành hoa. Niệm Phật
như vậy thì danh tự tức pháp thân, vì tánh của danh tự chẳng thể thủ đắc.
Pháp
thân tức danh tự vì pháp thân hiện hữu ở khắp mọi nơi, cho đến báo thân và hóa
thân cũng chẳng khác danh tự. Cũng vậy, danh tự chẳng khác báo thân và hóa
thân. Cho nên, phẩm Như Lai Danh Hiệu nói: “Danh hiệu của một đức Như Lai đồng
đẳng với pháp giới hư không giới, tùy theo tâm chúng sinh mà mỗi người đều thấy
biết khác nhau”.
Như thế, đủ biết các danh tự của thế gian đều là danh tự Phật,
chỉ cần nêu ra bất cứ một danh tự Phật nào cũng đều bao gồm hết danh tự của thế
gian.
Phẩm Tỳ lô giá na viện dẫn các đức Phật quá khứ có
danh tự bất đồng, nhưng chỉ cần dùng một danh tự Tỳ lô là bao gồm hết, vì tất cả
các đức Phật đều có tạng thân Tỳ lô xưa nay không khác.
Như vậy, niệm Phật, thọ
trì danh tự một đức Phật thì gồm thu pháp giới. Danh tự là toàn pháp giới nên
toàn pháp giới gồm thu, chẳng phải quá khứ, chẳng phải hiện tại, chẳng phải vị
lai, cũng chẳng phải phương Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn hướng cạnh, phương trên,
phương dưới, mười phương, ba thời gian không sót trong lúc đang niệm, chẳng trải
qua một Sát na (thời gian cực ngắn) đã thành Phật rồi.
04. Niệm Phật
Tỳ lô giá na để chóng nhập vào pháp giới Hoa Nghiêm
Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm ghi các bài kệ tụng của các vị
Bồ tát và Trời, Rồng, quỷ thần ở khắp mười phương, mỗi vị đều nói ra pháp môn của
mình chứng đắc, rồi dùng quả địa Như Lai phát khởi tín giải cho người để họ nhập
vào Niệm Phật Tam muội. Từ đó, nói phẩm Như Lai Hiện Tướng cho đến các phẩm Thập
tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, mỗi phẩm đều có các vị Đại Bồ tát và
các vị thí chủ ở khắp mười phương nói kệ tán Phật.
Rồi ở phẩm Thập địa, mỗi khi
trải qua một địa đều nói: “Chẳng rời niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng”. Thế nên,
biết thứ lớp các giai vị tuy khác nhưng giai vị nào cũng lấy niệm Phật làm bản
hạnh. Phật với Phật đạo đồng, nên một Tỳ lô bao gồm hết. Vì thế, một môn Thường
tùy Phật học trong mười nguyện Phổ Hiền nói: “Như đức Như Lai Tỳ lô giá na ở thế
giới Ta bà này, từ lúc mới phát tâm tinh tấn không lui sụt, đem bất khả thuyết,
bất khả thuyết thân mạng bố thí cho đến thành Đại bồ đề, nhập Niết bàn, tôi đều
theo học tất cả các hạnh như thế”.
Do bản sự của Ngài ở địa vị tu nhân rộng lớn vô biên
không thể nghĩ bàn, cho nên cảm được báo thân và hóa thân cũng rộng lớn vô biên
không thể nghĩ bàn. Người tu hành thật sự có được tín giải vững vàng thì biết tất
cả Phật chẳng rời tự tánh, rồi khởi tâm mạnh mẽ, phát tâm gánh vác thì
không khác chi đức Bổn sư lúc mới phát tâm.
Dạ thần Tịch Tịnh Âm Hải nói: “Tôi được môn giải thoát
sinh ra Hỉ Trang Nghiêm rộng lớn trong mỗi niệm, rồi có thể nhập vào biển pháp
giới an lập nhiều như số bụi nhỏ trong mười bất khả thuyết, bất khả thuyết cõi
nước Phật, thấy các hạt bụi nhỏ trong tất cả cõi Phật của biển tất cả pháp giới
an lập ấy. Trong mỗi hạt bụi nhỏ, có cõi nước Phật nhiều như số bụi nhỏ của mười
bất khả thuyết bất khả thuyết cõi nước Phật. Mỗi một cõi nước đều có đức Tỳ lô giá
na ngồi đạo tràng, trong mỗi niệm thành Đẳng chánh giác, hiện các thần biến, mỗi
thần biến được hiện ra đều khắp tất cả biển pháp giới.
Dạ thần Khai Phu Thụ Hoa nhập vào môn giải thoát sinh
ra Hỉ Quang Minh rộng lớn, nhớ lại và đều thấy rõ hết các hạnh tu hành ở quá khứ
của đức Tỳ lô giá na.
Thần Diệu Đức Viên Mãn đắc môn giải thoát tự tại, thọ
sinh nhập vào biển vô lượng thọ sinh của đức Tỳ lô giá na ở vô lượng cõi Phật,
trong mỗi hạt bụi của tất cả thế giới thị hiện thọ sinh thường không gián đoạn”.
Như vậy, niệm Tỳ lô giá na thì ngay nơi niệm là Phật,
ngay nơi Phật là niệm. Tận mười phương hư không cho đến nhỏ như đầu cây kim, hạt
cải không có chỗ nào không phải là pháp giới Tỳ lô. Đây gọi là niệm Phật pháp
giới, cũng gọi là niệm khắp tất cả Phật. Sở dĩ, đồng tử Thiện Tài đầu tiên tham
Đức Vân liền được nghe pháp môn niệm Phật, cuối cùng đồng tử Thiện Tài được Bồ tát
Phổ Hiền nói kệ ngợi khen công đức thù thắng của Như Lai và dạy người tín giải,
y như cũ chẳng rời pháp môn niệm Phật. Trước sau pháp giới không còn hai đế
chân tục. Kệ rằng:
“Hoặc thấy cõi này đẹp vô cùng
Được Phật nghiêm tịnh vô lượng kiếp
Đấng tối thắng Tỳ lô giá na
Từ trong giác ngộ thành Chánh giác.
Hoặc thấy đức Phật Vô Lượng Thọ
Được Bồ tát Quán Tự Tại nhiễu quanh
Đều đã trụ giai vị Quán đảnh
Đầy cả thế giới khắp mười phương”.
Và nói:
“Hoặc thấy Thích ca thành Phật đạo
Đã trải số kiếp chẳng nghĩ bàn
Hoặc thấy các vị thành Bồ tát
Đang làm lợi ích cho chúng sinh
Hoặc thấy Như Lai Vô Lượng Thọ
Thọ ký cho các vị Bồ tát
Sẽ thành Đại đạo sư vô thượng
Được bổ xứ vào cõi An Lạc”.
Thế nên, biết pháp giới của các đức Phật dung nhiếp hết,
toàn thể là Di đà, Cực Lạc Giá na chẳng rời Hoa Tạng, tùy theo tâm chúng sinh
mà mỗi người thấy chẳng đồng nhau, nhưng vì Phật xưa nay thường bất động, cho
nên quyển cuối của bộ kinh Hoa Nghiêm, lấy hồi hướng Cực Lạc làm chỗ chung cuộc.
05. Niệm Phật A di đà ở thế giới Cực Lạc
viên mãn đại nguyện Phổ Hiền
Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện ghi: “Người muốn thành tựu
môn công đức Như Lai, cần phải tu mười hạnh nguyện rộng lớn:
01. Lễ kính chư Phật.
02. Ngợi khen Như Lai.
03. Rộng tu cúng dường
04. Sám hối nghiệp chướng
05. Tùy hỉ công đức
06. Thỉnh chuyển pháp luân
07. Thỉnh Phật trụ thế
08. Thường tùy Phật học
09. Hằng thuận chúng sinh
10. Đều hồi hướng hết”.
Kinh Hoa Nghiêm này chuyên trình bày cảnh giới Tỳ lô,
tại sao phải lấy Cực Lạc làm chỗ quy hướng?
Bởi vì, một danh hiệu của A di đà là Vô Lượng Quang,
mà Tỳ lô giá na cũng được dịch ra chữ Hán là Quang Minh Biến Chiếu, vì đồng một
thể, vì chẳng phải đến, đi, vì ở trong nhất thể cũng không ngại đến, đi. Như luận
Đại Thừa Khởi Tín nói: “Chúng sinh mới học pháp này muốn cầu chính tín, nhưng
tâm họ yếu đuối, vì trụ ở thế giới Ta bà không thể thường gặp chư Phật, hầu hạ
cúng dường, ý muốn thoái lui.
Người ấy nên biết Như Lai có phương tiện thù thắng
nhiếp hộ tín tâm, đó là chuyên niệm Phật A di đà ở thế giới Cực Lạc phương Tây,
hồi hướng căn lành đã tu tập, nguyện cầu sinh về thế giới kia thì được vãng sinh,
vì thường được thấy Phật nên không bao giờ lui sụt”.
Vì báo độ của đức Tỳ lô, hàng Nhị thừa và phàm phu
không có phần được tiếp dẫn. Nhưng Cực Lạc thì có chia ra làm chín phẩm, mọi
loài đều được tham dự. Một khi được vãng sinh, cắt ngang dòng sinh tử, đủ thấy
sự hơn kém giữa Ta bà và Cực Lạc. Các kinh đã nói cặn kẽ, ở đây không cần phải
ghi lại đầy đủ.
Nhưng kinh khác chỉ dạy hoặc nói “mười niệm”, hoặc nói
“một ngày cho đến bảy ngày”, hoặc quán “thân Phật một trượng sáu cho đến sáu
mươi vạn ức Na do tha hằng hà sa Do tuần”. Tóm lại, chẳng ra ngoài số lượng.
Chưa bằng kinh Hoa Nghiêm này, một niệm quán khắp dọc suốt ba thời gian, ngang
trùm mười phương hư không.
Ngay lúc mới phát tâm liền siêu việt số lượng, có được
nhân thanh tịnh hết sức thù thắng. Do Phật A di đà dùng bốn mươi tám lời nguyện
tiếp nhận khắp chúng sinh cùng với nguyện vương này thể hợp hư không, mảy may
không cách biệt. Thế nên, chẳng đợi thời gian, chẳng dời nơi chốn, nhậm vận
vãng sinh, trở lại đồng với cái sẵn có.
Văn sau nói: “Đến rồi, thấy các vị Bồ tát Văn thù Sư lợi,
Phổ Hiền, Quán Tự Tại, Di lặc v.v… cùng nhau nhiễu quanh đức Phật A di đà”. Văn
thù, Phổ Hiền chẳng rời cõi Ta bà này mà hiện thân ở phương kia, tùy theo tâm
chúng sinh, niệm niệm xuất hiện. Vì thế, biết Phật A di đà ở trong nước Cực Lạc,
thường chuyển kinh Hoa Nghiêm này không lúc nào ngừng nghỉ.
Lại nữa, pháp môn niệm Phật này, nếu chẳng phải diệu
trí quán sát thì không thể nào rõ biết được cái nhân thanh tịnh sẵn có đủ trong
tâm ta, cho nên đầu tiên là Văn thù. Nếu chẳng phải đại nguyện trang nghiêm thì
không thể nào viên mãn được cái quả thanh tịnh sẵn có đủ trong tâm ta, cho nên
kế đó là Phổ Hiền, rồi Quán Âm, Di lặc,
một vị sẽ được bổ xứ thành Phật ở nước Cực Lạc. Một vị sẽ được bổ xứ thành Phật
ở cõi Ta bà.
Hai vị Thánh đồng tụ hội để chứng tỏ Lạc Bang và Hoa Tạng chung một,
không hai. Nhưng ngài Di lặc nhờ đế quán mười phương duy thức, thức tâm tròn
sáng, nhập viên thành thật, đấy là chính nhân của Tịnh độ. Quán Âm nhờ như huyễn
văn huân vô tác diệu lực mà vào khắp cõi nước thành tựu Bồ đề, đấy là cực quả của
Tịnh độ.
Văn sau nói: “Người ấy tự thấy sinh trong hoa sen, được
Phật thọ ký. Được thọ ký rồi, trải qua vô số trăm nghìn vạn ức Na do tha kiếp
dùng sức trí huệ, tùy theo tâm chúng sinh mà làm lợi ích, chẳng bao lâu sẽ ngồi
tòa Bồ đề đạo tràng, hàng phục ma quân, thành Đẳng chánh giác, chuyển pháp luân
vi diệu, khiến cho chúng sinh trong các cõi nước Phật nhiều như số bụi nhỏ phát
tâm Bồ đề, tùy theo căn tánh của họ mà giáo hóa thành thục cho đến tận nhiều kiếp
ở đời vị lai làm nhiều lợi ích cho tất cả chúng sinh”.
Toàn bộ kinh Hoa Nghiêm đến đây kết thúc, các người có
trí phải cương quyết tin tưởng tiến vào, một niệm lơ là thì luân hồi vô tận.
Than ôi! Khổ thay!.
|