Lược giảng giáo nghĩa Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện - P 1
12.07.2010 10:28
Nhờ công sức dịch thuật và hoằng truyền của hòa thượng Trí Tịnh, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện được trì tụng rất phổ biến trong giới Phật Tử Việt Nam, tiếc là từ trước đến nay, ít có vị tôn túc nào dành thời gian giảng giải tỉ mỉ cho hàng Phật tử sơ cơ được thấu hiểu phần nào huyền nghĩa bao la của kinh Hoa Nghiêm được cô đọng trong phẩm kinh này.
Do
vị trí đặc biệt của phẩm kinh này đối với pháp môn Tịnh Độ (cư sĩ Ngụy Mặc Thâm
xếp phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện vào Tịnh Độ Ngũ Kinh), chúng tôi luôn mong mỏi
được đọc một bản chú giải hay giảng ký nào xiển dương thật rõ giáo nghĩa phẩm
Phổ Hiền Hạnh Nguyện.
Trong Đại Tạng Kinh không thiếu các bản chú giải, sớ giải
phẩm này, nhưng đa phần văn nghĩa quá rộng, chú trọng nhiều về mặt Lý nên hầu
như chỉ thích hợp cho những hành giả thượng căn thuộc Hoa Nghiêm Tông hay dành
riêng cho các vị đại tri thức, học giả nghiên cứu. Khi thử đọc tác phẩm chú
giải lừng danh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Biệt Hành Sớ Sao (tác phẩm được coi là
bản chú giải đặc sắc nhất, tinh vi nhất của phẩm kinh này), chúng tôi hoàn toàn
choáng ngộp và buồn tủi nhận thấy mình khó thể lãnh hội được chút phần.
Những
lời Sao của ngài Khuê Phong Tông Mật và lời Sớ của ngài Trừng Quán quá cao
siêu, tinh vi, uyên áo, câu văn quá súc tích, nếu chúng tôi không lượng sức, cứ
dịch bừa ra, chắc chắn sẽ không tránh khỏi tình trạng diễn dịch sai lạc ý kinh,
ý Tổ, tự mình lầm, khiến người lầm, gây tội nghiệt nặng nề khó thể cứu vãn.
Thử
tìm đọc những trước tác của các tôn đức Trung Hoa cận đại, chúng tôi thấy tác
phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Tập Yếu Sớ của ngài Đế Nhàn rất uyên áo, nhưng
quá thiên trọng về Lý, câu văn lại quá súc tích, khó lòng chuyển ngữ đầy đủ,
gãy gọn sang tiếng Việt được. Thêm nữa, để hiểu được lời Sớ của Ngài, nếu không
hiểu biết đôi chút về giáo nghĩa Hoa Nghiêm và giáo nghĩa Thiên Thai, hành nhân
sơ cơ không dễ gì lãnh hội được.
Những bản giảng ký của các vị như trưởng lão
Từ Châu, pháp sư Từ Hàng, pháp sư Viên Anh, pháp sư Văn Châu cũng thiên nhiều
về luận giải giáo nghĩa của kinh văn theo quan điểm của tông Hoa Nghiêm, hơn là
chú ý đến khía cạnh ứng dụng tu tập các hạnh nguyện ấy một cách cụ thể; cũng
như chưa hiển thị rõ ràng mối quan hệ thân thiết giữa phẩm kinh này với ba kinh
Tịnh Độ.
Riêng
bản Phổ Hiền Đại Sĩ Hạnh Nguyện Đích Khải Thị của lão pháp sư Tịnh Không rất
đặc biệt. Ngài chỉ chú trọng đến những ý chính của kinh văn, dùng những ngôn từ
mộc mạc rất dễ hiểu khiến người đọc hiểu ngay cốt tủy từng lời nguyện và làm
thế nào để vận dụng tu tập những hạnh nguyện ấy trong cuộc sống thường nhật.
Điểm đặc sắc là từng lời nguyện, từng lời kệ được lão pháp sư giải thích dưới
lăng kính Tịnh Độ nên rất khế cơ đối với hành giả Tịnh Độ. Những lời lão hòa
thượng giảng giải sẽ giúp họ củng cố niềm tin, nhất tâm chuyên tu, tránh khỏi
cảnh đứng núi này trông núi nọ. Vì thế, trong ba bản giảng ký về Bồ Tát Phổ
Hiền của Ngài, chúng tôi chọn dịch bản này vì tính cách giản dị, thiết yếu và
hỗ trợ hoằng dương Tịnh Tông của nó.
Ngoài
ra, để giúp cho những hành nhân Tịnh nghiệp sơ cơ như chúng tôi có dịp hiểu sâu
hơn kinh văn và học thêm những thuật ngữ đặc thù của Hoa Nghiêm hay kinh điển
Đại Thừa nói chung, chúng tôi chọn dịch những lời giải thích của lão cư sĩ
Hoàng Trí Hải trong tác phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Bạch Thoại Giải Thích để
làm cước chú cho những từ ngữ trong kinh không được Hòa Thượng Tịnh Không nhắc đến
trong bài giảng này.
Ngưỡng
nguyện dịch phẩm thô lậu này sẽ giúp cho các đồng tu củng cố niềm tin nơi pháp
môn Tịnh Độ và ngày càng tinh tấn dũng mãnh chuyên tu. Bửu Quang Tự đệ tử Như
Hòa kính bạch
A.
Dẫn nhập
Chư vị đồng tu!
Hôm nay chúng tôi có nhân duyên thù thắng phi thường được báo cáo cùng quý vị
những lời khải thị trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm. Tuy
vậy, do thời gian không đủ, chẳng thể giảng chi tiết, nhưng bằng phương thức
nghiên cứu, học tập rồi báo cáo này, tôi tin tưởng các đồng tu nhất định sẽ
thâu hoạch nhiều hơn là nghe giảng kinh bình thường. Hiện tại, con người bận
rộn công việc, dù kinh điển nhà Phật rất hay, rốt cuộc vẫn chẳng thể hoàn toàn
phù hợp nhu cầu con người hiện đại.
Bởi thế, nghiên cứu, học tập để báo cáo có
mối quan hệ thân thiết đối với cuộc sống, đức hạnh, tu trì, gia đình mỹ mãn, xã
hội yên ổn, tốt đẹp. Nêu ra cách nghiên cứu, tu tập, gạn lấy những tinh hoa,
khiến cho những ý nghĩa trọng yếu trong kinh được phô bày rõ ràng, chúng ta
nghe xong chắc chắn sẽ đạt được lợi ích chân thật.
Trước khi báo cáo, trước hết hãy giới thiệu kinh Hoa Nghiêm.
Đại Tạng Kinh là hết thảy những pháp Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói trong bốn mươi
chín năm; rốt cục, đức Phật giảng cho chúng ta những gì? Trong kinh Vô Lượng
Thọ, đức Phật nói đến ba thứ chân thật:
1)
Chân thật tế.
2)
Chân thật trí huệ.
3)
Chân thật lợi ích.
Trong
bốn mươi chín năm, đức Phật giảng cho chúng ta hết thảy kinh là giảng “Thật
Tướng của các pháp”. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, Thật Tướng của các pháp chính
là chân tướng của nhân sanh vũ trụ. Nhân sanh chính là bản thân con người chúng
ta; vũ trụ là hoàn cảnh sanh sống của chúng ta.
Đức Thế Tôn xuất hiện trong thế
gian, những điều Ngài giảng trong bốn mươi chín năm chính là chân tướng và hoàn
cảnh chúng ta đang sống. Phật giáo về bản chất chính là những điều răn dạy của
Thích Ca Mâu Ni Phật đối với hết thảy chúng sanh trong mười pháp giới; Phật
giáo không phải là tôn giáo, mà là giáo dục.
Giáo dục Phật giáo cứu cánh viên
mãn, giúp chúng ta phá mê khai ngộ, lìa khổ được vui. Phá mê khai ngộ là chân
thật trí huệ, lìa khổ được vui là chân thật lợi ích. Lão hòa thượng Hư Vân dạy
chúng ta: “Học Phật phải tin sâu nhân quả, nghiêm trì giới luật, tín tâm kiên
cố, quyết định hành môn”.
Giáo
dục Phật giáo bác đại tinh thâm, bất cứ học thuật hay tôn giáo nào cũng đều
chẳng thể sánh bằng được. Chúng ta thời gian, tinh lực một đời hữu hạn, làm sao
tu học được? Vì thế phải tinh tuyển (chọn lấy những tinh hoa). Phải chọn lựa,
phải hiểu nghĩa. Những đạo lý Phật dạy, những phương pháp đức Phật đã trao,
chúng ta phải hiểu rõ ràng để ứng dụng vào cuộc sống thường nhật.
Nền giáo học
nhà Phật nhằm đem lại cho chúng ta lợi ích chân thật, nói cụ thể là cả một đời
hạnh phúc, sung sướng, gia đình mỹ mãn, sự nghiệp thuận lợi, xã hội yên ổn, tốt
đẹp, quốc gia giàu mạnh, thế giới hòa bình, nền giáo dục của Phật Đà đều thực
hiện được hết. Đó chỉ là Hoa Báo, tức là quả báo trong đời này; quả trong đời sau
gọi là Quả Báo, càng thù thắng hơn nữa. Đặc biệt là Hoa Nghiêm quả báo thù
thắng, chúng ta không cách gì tưởng tượng nổi đâu!
Kinh
Hoa Nghiêm là kinh bậc nhất trong nhà Phật, là pháp luân viên mãn của đức Phật.
Bộ kinh này chính là cương lãnh của toàn bộ Phật pháp, là khái luận của toàn bộ
Phật học. Hết thảy kinh đều là quyến thuộc của kinh Hoa Nghiêm, đều là một bộ
phận nào đó của kinh Hoa Nghiêm. Bộ kinh này giảng toàn thể nhân sanh vũ trụ;
kinh này viên mãn như thế nào? Đến tối hậu, mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ
Tát dẫn về Cực Lạc thì kinh này mới là viên mãn rốt ráo.
Cổ
nhân nói: “So trong hết thảy kinh, kinh Hoa Nghiêm là bậc nhất. Đem kinh Hoa
Nghiêm so với Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng Thọ bậc nhất. Hoa Nghiêm đến tối hậu,
Phổ Hiền dùng mười nguyện dẫn về Cực Lạc mới là viên mãn, kinh Vô Lượng Thọ từ đầu
đến cuối chữ nào câu nào cũng giảng về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Bởi thế,
kinh Vô Lượng Thọ là chỗ quy túc của kinh Hoa Nghiêm”.
Đại
sư Thiện Đạo đời Đường nói: “Hết thảy chư Phật Như Lai thị hiện trong nhân gian
thuyết pháp chỉ nhằm giới thiệu công đức lợi ích của Tây Phương Cực Lạc thế
giới cho mọi người”.
Kinh
Hoa Nghiêm có ba bản dịch (1): bản dịch đời Tấn gồm sáu mươi quyển, bản dịch
đời Đường gồm tám mươi quyển, bản dịch bốn mươi quyển thuộc niên hiệu Trinh
Nguyên đời Đường Đức Tông (thường gọi là Tứ Thập Hoa Nghiêm). Tứ Thập Hoa
Nghiêm bao gồm toàn văn phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện. Đại sư Thanh Lương
phán định kinh Hoa Nghiêm gồm “thất xứ cửu hội” (chín pháp hội giảng kinh ở bảy
nơi) (2).
Nội
dung kinh này theo đại sư Thanh Lương phán định gồm bốn khoa lớn “tín, giải,
hạnh, chứng” (3), chúng ta cần phải hiểu rõ. Nội dung kinh này ngoài bốn phần
trên ra, còn có năm tầng nhân quả (ngũ châu nhân quả): Mười một quyển đầu là Sở
Tín Nhân Quả; bốn mươi mốt quyển giữa trước hết giảng về Nhân Quả Sai Biệt,
phần sau giảng về Nhân Quả Bình Đẳng; bảy quyển giảng về Thành Hạnh Nhân Quả, tức
là phẩm Ly Thế Gian, hoàn toàn giảng về phương pháp tu hành; hai mươi mốt quyển
sau cùng giảng về Chứng Nhập Nhân Quả (trong Tứ Thập Hoa Nghiêm, phần này thuộc
quyển bốn mươi).
Ngoài
ra, còn nói đến Lục Tướng, Thập Huyền Môn, Tứ Pháp Giới (4), đấy chính là chân
tướng nhân sanh vũ trụ, tức là chân tướng của chúng ta và hoàn cảnh sanh hoạt.
Nói đến đại thế giới, nói đến vũ trụ thì trong kinh này đức Phật giảng hai mươi
tầng Hoa Tạng thế giới; nói như bây giờ là Vũ Trụ Quan.
Về phương diện hành
môn, kinh này đặc biệt chú trọng “trải sự để luyện tâm”. Tu hành từ đâu? Tu
hành ngay trong sanh hoạt thường nhật, ngay trong những lúc mặc áo, ăn cơm, xử
sự, đãi người, tiếp vật mà luyện tập cái tâm thanh tịnh, tâm quảng đại, tâm
bình đẳng, tâm đại từ đại bi của chính mình thì mới là thọ dụng chân
thật.
Thiện
Tài đồng tử tham phỏng năm mươi ba lần là điểm đặc sắc của kinh Hoa Nghiêm. Hoa
Nghiêm chẳng những có lý luận viên mãn, phương pháp châu đáo tường tận mà còn
có Thiện Tài và Văn Thù, Phổ Hiền…năm mươi ba vị đại Bồ Tát biểu diễn cho chúng
ta, dạy chúng ta tu hành như thế nào. Năm mươi ba vị thiện tri thức đại diện
nam, nữ, già, trẻ, các hạng, các nghiệp trong xã hội hiện tại.
Đại Thừa Phật
pháp ai cũng học được, ai cũng tu được, ai cũng thành tựu được. Hễ chân chánh
phát tâm học Phật thì chỉ có mỗi một mình ta là học trò. Thiện Tài đồng tử
không có đồng bạn, không có đồng học, gặp ai cũng đều là thiện tri thức; nói
như bây giờ: Ai cũng là thầy mình cả. Khổng Tử nói: “Ba người cùng đi, ắt có
người là thầy ta”. Người tốt lẫn kẻ xấu đều là thầy mình.
Người
tốt làm chuyện tốt, chúng ta phải học theo; họ là thầy của mình. Kẻ ác làm chuyện
gì chúng ta phải cảnh tỉnh, chẳng được học theo; họ cũng là thầy của ta. Khi
tham phỏng bậc Bồ Tát Cửu Trụ là Thắng Nhiệt Bà La Môn, ông ta ngu si, Thiện
Tài chẳng học theo cái ngu si đó. Khi tham phỏng Đệ Thất Hạnh Vị Bồ Tát là Cam
Lộ Hỏa Vương, tâm sân khuể nặng nề; bậc Đệ Ngũ Hồi Hướng Bồ Tát là Phạt Tô Mật
Đa nữ là một cô gái điếm, đại biểu cho tham ái. Ba vị đại Bồ Tát tượng trưng
cho ba độc phiền não Tham - Sân - Si.
Trong xã hội hiện thời, bậc tri thức có
đủ Tham - Sân - Si chẳng ít, nếu chúng ta có được trí huệ như Thiện Tài, có bản
lãnh như Thiện Tài, chúng ta hành xử giống như Ngài thì sẽ thành được Vô Thượng
Đạo chẳng trở ngại gì.
Kinh
này cho thấy hành Bố Thí chẳng trở ngại viên dung, viên dung chẳng trở ngại
việc hành Bố Thí. Đại Thừa Phật pháp tu học siêu việt quốc giới, chủng tộc, tôn
giáo, còn siêu việt cả thiện ác, siêu việt mười pháp giới; đó là những điều
chúng ta phải nhận thức, thể hội từ kinh Hoa Nghiêm.
Mỗi một địa vị, giai cấp
có một thiện hữu đại biểu, chỉ mình Đức Sanh đồng tử và Hữu Đức đồng nữ là cùng
hiện diện trong một hội: Đức Sanh đồng tử đại biểu trí huệ, Hữu Đức đồng nữ đại
biểu từ bi. Bi - Trí song vận mới hòng mau chóng đạt đến cảnh giới rốt ráo viên
mãn. Đây là dạy chúng ta trong cuộc sống, đối người xử vật phải có trí huệ,
phải có phương tiện thiện xảo.
Thiện
Tài đồng tử tham phỏng Di Lặc Bồ Tát, thăm viếng lầu gác của ngài Di Lặc - [lầu
gác ấy] nói như bây giờ là thư viện - chẳng những chứa sách phong phú mà băng
ghi âm, băng ghi hình cũng rất phong phú. Vì sao vậy? Vì trong lầu gác đó có
thể nhìn thấy vô lượng vô biên các cõi nước Phật giống như hình ảnh xuất hiện
trên màn bạc. Bởi thế, thư viện đó chính là “thị thính đồ thư quán” (thư viện có
đủ phương tiện, tài liệu âm thanh lẫn hình ảnh). Thiện Tài đến đó đại khai viên
giải, hiểu viên mãn.
Cuối cùng, vị thiện tri thức thứ năm mươi ba là Phổ Hiền
Bồ Tát, dạy đồng tử mười đại nguyện, mười đại nguyện tiêu biểu cho hạnh môn
viên mãn. Thư viện của ngài Di Lặc là học vấn viên mãn, mười đại nguyện vương
của Phổ Hiền đại sĩ là đức hạnh viên mãn. Học vấn và đức hạnh đều viên mãn là
thành Phật, đạt đến đó là thành tựu vô thượng Phật đạo. Đấy chính là điều khải
thị viên mãn rốt ráo vĩ đại của kinh Hoa Nghiêm.
Trong
kinh này, đức Phật dạy chúng ta: Chẳng học theo hạnh nguyện Phổ Hiền sẽ chẳng
thể viên thành Phật đạo. Sau khi tham phỏng Di Lặc Bồ Tát, Thiện Tài đồng tử
bèn tiếp nhận lời Phổ Hiền Bồ Tát dạy răn. Do đây ta biết rằng: hạnh nguyện Phổ
Hiền là những việc phải tu tập của bậc Đẳng Giác Bồ Tát, chẳng phải là chuyện để
người tầm thường tu tập.
Nói rộng ra, hạnh nguyện ấy là chuyện phải tu của bốn
mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ. Trong bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ,
địa vị thấp nhất là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo; trước khi đạt đến Sơ Trụ vẫn
có thể phát tâm tu học hạnh nguyện Phổ Hiền nhưng nhất định chưa thể làm được.
“Phổ Hiền Bồ Tát sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới thì mười đại nguyện mới
viên mãn”.
Câu này rất đáng để chúng ta suy nghĩ. Văn Thù và Phổ Hiền đều phát
nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, Phổ Hiền là Pháp Vương Tử của đức Tỳ
Lô Giá Na Phật trong Hoa Tạng thế giới, là bậc Đẳng Giác Bồ Tát trong Viên
Giáo, Ngài sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới để làm gì? Do câu này ta tìm
được đáp án, Ngài về đó để tu cho viên mãn mười đại nguyện vương.
Mục
đích duy nhất của Tịnh tông học nhân là cầu sanh Tịnh Độ. Sanh về Tịnh Độ bất
thoái thành Phật là lợi ích chân thật của Tịnh tông. Giải môn (mặt lý luận,
giáo nghĩa) của Tịnh tông y vào năm kinh một luận, hạnh môn (mặt tu tập, thực
hành, phương pháp tu tập cụ thể) là một câu A Di Đà Phật.
Nhiếp trọn sáu căn,
tịnh niệm tiếp nối là Chánh Hạnh. Ngoài Chánh Hạnh, còn cần phải có Trợ Hạnh, Chánh
Trợ Song Tu. Trợ Hạnh của Tịnh Tông gồm năm khoa mục: ba phước, sáu hòa kính,
lục độ, Phổ Hiền thập đại nguyện vương.
Cơ
sở của Phổ Hiền hạnh là ba phước. Phước thứ nhất trong ba phước là tu phước báo
nhân thiên. Muốn được thành Phật, thành Bồ Tát thì trước hết phải làm người cho
tốt. Bắt đầu học từ đâu? Phước thứ nhất là “hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư
trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập Thiện nghiệp”, học Phật bắt đầu từ đó. Toàn bộ
Phật pháp chỉ là dạy hai chữ Hiếu Kính mà thôi!
“Hiếu
dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng”: Chỉ có thành Phật mới có thể hiếu với cha
mẹ, tôn kính sư trưởng viên mãn được. Chẳng kính cha mẹ là bất hiếu, chẳng kính
sư trưởng cũng là bất hiếu. Anh em bất hòa khiến cha mẹ đau lòng cũng là bất
hiếu.
Làm việc không tròn trách nhiệm, chẳng có lòng thành đối với người khác,
làm việc chẳng nỗ lực, thân thể không khỏe thường sanh bệnh, tự mình ngày ngày phiền
não, một câu A Di Đà Phật niệm không tròn, đều là bất hiếu.
Không có chuyện gì
ra ngoài hiếu kính cả, bởi thế Phật cặn kẽ dạy chúng ta đại căn đại bản là
“hiếu thân tôn sư” (hiếu với cha mẹ, tôn kính thầy). Chúng ta tự mình thành
Phật chẳng những độ được cha mẹ trong đời này mà còn độ được cha mẹ trong đời
đời kiếp kiếp quá khứ, đấy mới là tận hết đại hiếu.
“Từ
bi bất sát”: Từ cơ sở hiếu kính, phát triển thành đại từ đại bi, từ tâm đối với
hết thảy chúng sanh. Bất sát là Từ, chẳng trộm cắp, chẳng tà dâm, chẳng nói
dối, chẳng uống rượu cũng là Từ. Từ tâm ấy bao gồm hết thảy Tam Học Giới - Định
- Huệ. Mở rộng ra, toàn bộ pháp giới đều bao gồm trong ấy; Bất Sát chỉ là nêu
lên một thí dụ. Phàm hễ làm cho chúng sanh sanh phiền não thì tâm địa chúng ta
chẳng Từ, chính mình sanh phiền não cũng là chẳng Từ.
“Tu
Thập Thiện nghiệp”: Thập Thiện chẳng phải là Giới mà là thiện nghiệp. Ba điều
thiện nơi thân: chẳng sát sanh, chẳng trộm cắp, chẳng tà dâm; bốn điều thiện
nơi miệng: không vọng ngữ (chẳng dối người), không lưỡng thiệt (chẳng khêu gợi
thị phi), không ỷ ngữ (chẳng hoa ngôn xảo ngữ), không ác khẩu (chẳng nói năng
thô lỗ); ba điều thiện nơi ý: chẳng tham, chẳng sân, chẳng si. Đức Phật dạy
chúng ta tu học mười loại thiện hạnh lớn nơi thân - ngữ - ý. Ai thực hiện tốt
những điều ấy mới gọi là hảo nhân.
Phước
thứ nhất là cơ sở, có hiếu thân, tôn sư, từ tâm, thập thiện thì mới có tư cách
vào cửa Phật học Phật, làm học trò của Phật Thích Ca.
Phước
thứ hai: “Thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”. Phước thứ hai
là chuyện phải tu của người tu Nhị Thừa, chân chánh bước vào cửa Phật. Người
Nhị Thừa tu Tam Học Giới - Định - Huệ.
“Thọ
trì Tam Quy”: Quý vị bước vào cửa Phật, trước hết đem phương pháp, lý luận tu
học nhà Phật truyền cho quý vị, đó gọi là “truyền thọ Tam Quy”. Tam Quy Y: Quy
là quay đầu, Y là nương tựa. Quy y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng); Tam Bảo trong tự
tánh. Lục Tổ nói: “Nào ngờ tự tánh vốn sẵn có đủ”. Tự tánh vốn sẵn đủ Tam Bảo,
nay ta quy y là quy y Tự Tánh Tam Bảo. Tam Quy:
1)
Quy y Phật: Phật là Tự Tánh Giác, giác chứ không mê. Từ hết thảy mê hoặc điên
đảo quay trở về nương dựa vào Tự Tánh Giác, nên gọi là “quy y Phật”.
2)
Quy y Pháp: Pháp là chánh tri chánh kiến nơi tự tánh. Kinh Pháp Hoa nói: “Nhập
Phật tri kiến”; Phật tri Phật kiến là tư tưởng chánh xác, kiến giải chánh xác,
hoàn toàn hiểu rõ chân tướng nhân sanh vũ trụ, chẳng hiểu sai lầm một điểm gì.
Từ chỗ suy nghĩ lầm lạc, kiến giải lầm lạc trước kia, nay quay lưng với những
lầm lạc ấy, về nương dựa nơi chánh tri chánh kiến của tự giác thì gọi là “quy y
Pháp”.
3)
Quy y Tăng: Tăng là tự tánh thanh tịnh, sáu căn thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy
trần. Lục Tổ nói: “Nào ngờ tự tánh vốn sẵn thanh tịnh”. Từ hết thảy nhiễm ô
quay đầu trở lại, nương vào tâm thanh tịnh sẵn có, thì gọi là “quy y
Tăng”.
Quy
y Phật giác chứ không mê, quy y Pháp chánh chứ chẳng tà, quy y Tăng tịnh chứ
chẳng nhiễm. Tu học Phật là Giác - Chánh - Tịnh. Tựa đề kinh Vô Lượng Thọ là
Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh.
Tam Bảo cũng nằm trong tựa đề kinh. Giác là Phật Bảo, Bình Đẳng là Pháp Bảo,
Thanh Tịnh là Tăng Bảo. Năm chữ “Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác” chính là Tự Tánh
Tam Bảo.
Chúng ta nương vào năm chữ này tu hành mới là thọ trì Tam Quy chân
chánh, mới thật là đệ tử Phật. Sau khi hiểu rõ cương lãnh tu hành rồi, đối
trước tượng Phật, Bồ Tát, phát thệ nguyện sâu nặng: “Mong trở thành học trò đức
Phật, xin được tiếp nhận lời Phật răn dạy, từ nay trở đi, con nhất định tu hành
thanh tịnh”. Thỉnh một vị pháp sư chứng minh, cử hành nghi thức Tam Quy. Thật
sự trọng yếu là phải quy y Tự Tánh Tam Bảo. Tam Quy xong, đức Phật dạy chúng ta
phải có đủ các giới, chẳng phạm oai nghi.
“Đầy
đủ các giới”: Trì giới là giữ pháp. Chẳng riêng gì những giới điều đức Phật đã
nói như Ngũ Giới, Thập Giới, Tỳ Kheo Giới, Bồ Tát Giới, mà phàm hết thảy những
răn dạy trong hết thảy các kinh luận, mỗi mỗi đều là giáo giới cả. Hiến pháp,
pháp luật, quy định, hiến chương đều thuộc phạm vi của giới luật, đều phải tuân
thủ; phong tục, tập quán và quan niệm đạo đức mỗi nước cũng phải tuân
thủ.
“Chẳng
phạm oai nghi”: Oai nghi là lễ tiết, lễ mạo. Chúng ta không những giữ pháp mà
còn phải hiểu lễ thì mới được đại chúng hoan nghênh, mới có thể làm cho Phật
pháp được lưu truyền rộng rãi các nơi. Phước thứ hai là việc thiện của Nhị
Thừa.
Phước
thứ ba: “Phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành
giả” là việc thiện của Đại Thừa Bồ Tát.
“Phát
Bồ Đề tâm”: Bồ Đề là tiếng Phạn, có nghĩa là Giác, chân chánh giác ngộ. Chân
chánh giác ngộ lục đạo luân hồi rất khổ, chẳng được tự tại. Chân chánh giác ngộ
sự giáo dục của đức Phật giúp chúng ta giải quyết hết thảy vấn đề, vấn đề hiện
tại, vấn đề tương lai, vấn đề tự thân, vấn đề gia đình, vấn đề sự nghiệp, vấn
đề xã hội, cho đến vấn đề sau khi chết đi sẽ sanh trong thế giới nào, thảy đều
giải quyết hết.
Chân chánh giác ngộ đạt đến Tây Phương Cực Lạc thế giới ngay
trong lúc còn sống là chuyện nhất định chúng ta có thể làm được. Sau khi giác
ngộ như vậy mới gọi là “phát Bồ Đề tâm”. Chân chánh giác ngộ mới có hy vọng
xuất ly luân hồi.
“Tin
sâu nhân quả”: Nhân quả ở đây chẳng phải là nhân quả kiểu việc lành có quả
lành, việc ác có ác quả, đức Phật dạy hàng Bồ Tát tin sâu nhân quả là ngụ ý
“niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”. Loại nhân quả này rất nhiều vị Bồ Tát
chẳng biết, cũng chẳng tin tưởng. Niệm A Di Đà Phật, vãng sanh bất thoái thành
Phật là quả báo, là phương pháp tu học thù thắng.
Nếu chúng ta tin sâu chẳng nghi,
quyết định thọ trì, trong một đời này sẽ nhất định thành Phật. Pháp môn Niệm
Phật vạn người tu vạn người đạt, cốt sao quý vị tin thật nguyện thiết, lấy một
câu Phật hiệu làm sự việc trọng đại của cả một đời, trong mười hai thời từ sáng
đến tối trong tâm chẳng buông bỏ Phật hiệu, chân chánh thực hiện chẳng hoài
nghi, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp, không một ai chẳng thành công. Đó gọi là
“tin sâu nhân quả”.
“Tụng
đọc Đại Thừa”: Tôi khuyên các đồng tu chỉ đọc một bộ Vô Lượng Thọ là nhằm dụng
ý đoạn phiền não. Lúc chẳng niệm kinh bèn suy nghĩ bậy bạ, sanh ra phiền não.
Phật nói chúng sanh có hai thứ Chướng: Phiền Não Chướng và Sở Tri Chướng. Hai
Chướng này do đâu mà có? Phẩm Xuất Hiện trong kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy
chúng sanh đều có trí huệ đức tướng của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước
nên chẳng thể chứng đắc”. Một lời đức Phật vạch trần gốc bệnh của chúng
ta.
Vọng
tưởng phát triển thành Sở Tri Chướng; chấp trước phát triển thành Phiền Não
Chướng. Mục đích của đọc kinh là phá hai Chướng đó, khôi phục tâm địa thanh
tịnh, rồi mới dùng cái tâm thanh tịnh, tâm chân thành, tâm cung kính, tâm từ bi
chấp trì danh hiệu thì danh hiệu ấy mới có cảm ứng.
Kẻ lợi căn trong vòng năm
mười năm đắc thanh tịnh tâm, sau đấy mới có thể thực hiện “pháp môn vô lượng
thệ nguyện học”, mới có thể ngao du trong kinh luận Đại Thừa. Kẻ căn tánh trung
hạ, nếu mười năm tâm vẫn chưa thanh tịnh, thì phải phát nguyện suốt đời niệm
một bộ kinh, pháp môn vô lượng thệ nguyện học đợi đến lúc sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới mới học cũng chẳng muộn.
Tập trung tinh lực trong thời gian
một đời chuyên cầu Tây Phương Tịnh Độ, hoàn toàn chẳng phân tâm. Tây Phương Cực
Lạc thế giới thọ mạng vô lượng, hết thảy kinh điển viên mãn đầy đủ giống hệt
như của mười phương chư Phật đã nói chẳng thiếu gì. Lúc đó, A Di Đà Phật là
thầy mình, Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền là đồng học, là bầu bạn, quý vị
nhất định phải thành tựu. Nếu thật sự có tâm từ bi thì cũng phải đảm bảo mình
được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi mới ngao du trong các kinh luận
Đại Thừa khác.
Nếu
chưa nắm chắc chuyện vãng sanh, thì phải bớt làm chuyện hoằng pháp lợi sanh,
nếu không sẽ bị uổng mất chuyện vãng sanh. Kinh Vô Lượng Thọ dạy: “Giả linh
cúng dường hằng sa thánh, bất như kiên dũng cầu Chánh Giác” (Ví như cúng dường
hằng hà sa số bậc thánh, cũng chẳng bằng kiên định, dũng mãnh cầu đắc Chánh
Giác), ý nói: Tự độ cầu vãng sanh là chuyện trọng yếu.
Tự mình đã nắm chắc
chuyện vãng sanh mới có thể phát tâm rộng độ chúng sanh; vãng sanh chưa nắm
chắc thì niệm Phật nhiều phải là chuyện khẩn yếu hơn. Độ chúng sanh phải có
duyên phận và năng lực. Có ba phước, sáu hòa kính, Tam Học (Giới - Định - Huệ),
Lục Độ làm cơ sở, tu học mười nguyện Phổ Hiền mới hòng đạt lợi ích.
Thế
nào là hạnh nguyện Phổ Hiền? Nơi quả đức Như Lai viên mãn, nhất định phải tu
đại hạnh thì phước đức mới hòng viên mãn. Mỗi một hạnh môn đều tương ứng với tự
tánh, nhưng mỗi một hạnh môn lại trọn khắp pháp giới.
Đã thế, mỗi một hạnh môn
lại bao trùm hết thảy hạnh; hết thảy hạnh cũng đều bao gồm trong một hạnh. Đấy
chính là bản thể của Phổ Hiền hạnh, mà cũng là hạnh Phổ Hiền Bồ Tát thực hành.
Nói cách khác, do phương pháp tu hành này mà thành tựu Phổ Hiền Bồ Tát. Cổ đức
quy nạp thành mười điều:
1)
Sở cầu phổ: Cầu được chứng đắc bình đẳng với hết thảy Như Lai. Chúng ta tương
lai thành Phật phải bình đẳng với hết thảy chư Phật trong mười phương ba đời,
chẳng sai biệt mảy may. Đấy là điều chúng ta mong cầu.
2)
Sở hóa phổ: Hóa là giáo hóa chúng sanh, Chư Phật Như Lai giáo hóa vô lượng vô
biên chúng sanh trong pháp giới, chúng ta cũng phải phát nguyện như vậy.
3)
Sở đoạn phổ: Đoạn phiền não. Kiến Tư phiền não, Trần Sa phiền não, Vô Minh
phiền não đều phải đoạn, chẳng thể còn lại mảy may phiền não nào.
4)
Sự hành phổ: Trong sanh hoạt thường nhật, bất luận chuyện lớn việc nhỏ, mảy may
tơ tóc cũng đều nên xứng với pháp giới, giống hệt như Bồ Tát.
5)
Lý hành phổ: Mỗi một việc làm nào cũng đều tương ứng với tự tánh.
6)
Vô ngại hành phổ: lý sự vô ngại.
7)
Dung thông hành phổ: sự sự vô ngại.
8)
Sở khởi đại dụng phổ: đức dụng trọn khắp pháp giới.
9)
Sở hành xứ phổ: theo chiều ngang thì cùng khắp pháp giới, hết thảy các cõi nước
Phật và thân tâm của mình không hai, không khác.
10)
Tu hành thời phổ: Nói trên phương diện thời gian thì một niệm và cả kiếp dung
thông. Mỗi một nguyện Phổ Hiền đều “hư không giới tận, chúng sanh giới tận,
nguyện tôi mới tận”. Nhưng hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp chẳng
có cùng tận, hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát cũng chẳng có cùng tận; chẳng mệt,
chẳng chán!
Đấy
là Phổ Hiền hạnh, hạnh môn đạt đến mức độ đăng phong tạo cực.
Duyên
do của phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện: Xưa kia, lúc đức Thế Tôn thị hiện thành Phật;
lúc ban sơ, nhập định dưới cội Bồ Đề, giảng kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa
Nghiêm; giảng thuyết lý sự vô ngại, sự sự vô ngại, cảnh giới một niệm và cả
kiếp viên dung. Nói cách khác, siêu việt cả thời gian lẫn không gian, chẳng có
thời gian dài hay ngắn, chẳng có không gian xa hay gần. Đây chính là cảnh giới
giải thoát chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật, Bồ Tát chứng đắc.
Phật
giảng bộ kinh này, nếu dịch theo nguyên văn tiếng Phạn thì tựa đề kinh là “Đại
Phương Quảng Giác Giả Tạp Hoa Trang Nghiêm kinh”. Người Trung Quốc thích đơn
giản, đổi chữ Giác Giả thành Phật, bỏ bớt chữ Tạp, lược bớt chữ Trang, thành ra
tựa đề kinh hiện thời là “Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm kinh”. Nhìn từ ý nghĩa
của tựa đề kinh, bộ kinh do đức Phật nói đây thật ra chính là hết thảy kinh
chúng ta thường giảng:
“Đại
Phương Quảng” (5) là Pháp, cũng như kinh Đại Thừa thường nói là Thể, Tướng, đức
dụng của Chân Như Tự Tánh.
“Phật”
là người chứng đắc; người viên mãn công đức thể, tướng, tác dụng của tự tánh
thì gọi là “thành Phật”, ta gọi người ấy là Phật Đà.
“Hoa
Nghiêm” là tỷ dụ. Tạp Hoa: Tạp là nhiều màu, có các thứ phẩm lượng, giống như
một đại hoa viên, hết thảy các loài hoa đều có mặt hết, cũng chẳng thiếu khuyết
gì cả. Trang Nghiêm nghĩa là đẹp đẽ. Hết thảy các pháp đức Phật chứng giống như
hoa nhiều màu trang nghiêm. Do đây biết rằng: tựa đề kinh này chẳng phải là tựa
đề của riêng một bộ kinh mà là đề mục chung của hết thảy kinh.
Đức
Thế Tôn sau khi thành Phật, trong mười bốn ngày (*), đem toàn bộ cảnh giới Ngài
chứng đắc viên mãn giảng cho Bồ Tát nghe. Hàng Bồ Tát nghe kinh trong hội Hoa
Nghiêm thuộc bốn mươi địa vị Pháp Thân đại sĩ, chẳng phải kẻ tầm thường.
Hạng
người tầm thường há có năng lực vào trong Định của đức Thế Tôn để nghe kinh ư?
Chẳng có Định công (công tu tập thiền định) thì chẳng có duyên phận. Phật nói
kinh này, Quyền Giáo Bồ Tát và Thanh Văn, Duyên Giác như đui, như điếc, thấy
chẳng được, nghe cũng chẳng được.
Giảng
kinh xong, Đại Long Bồ Tát đem kinh này cất giấu dưới Long Cung. Trong vòng sáu
trăm năm sau khi Phật diệt độ, thế gian chẳng có ai thấy được kinh này. Long
Thọ Bồ Tát thông minh tuyệt đỉnh, xem khắp kinh luận thế gian và kinh điển của chín
mươi sáu thứ ngoại đạo ở Ấn Độ, sanh tâm ngạo mạn. Lúc ấy, Đại Long Bồ Tát hóa
thân độ Long Thọ, bảo Long Thọ: “Long cung còn có rất nhiều kinh điển khác ông chưa
từng thấy qua”.
Khi đến Long cung, Long Thọ thấy Đại Long Bồ Tát cất giữ Đại
Bản Hoa Nghiêm, có mười tam thiên đại thiên thế giới vi trần bài kệ (mỗi một
bài kệ có bốn câu) (6), một tứ thiên hạ vi trần phẩm. Long Thọ Bồ Tát sững sờ,
tập khí ngạo mạn tan tành.
Tam
thiên đại thiên thế giới thật ra là một đại thiên thế giới, đại thiên thế giới
là khu vực hóa độ của một đức Phật. Địa cầu xoay quanh Thái Dương, lấy Thái
Dương làm trung tâm, gọi là Thái Dương Hệ. Thái Dương Hệ lại xoay quanh Ngân Hà
hệ. Trong quá khứ, có nhiều người cho rằng Thái Dương Hệ là một đơn vị thế
giới.
Một đại thiên thế giới có một trăm ức đơn vị thế giới như thế. Gần đây,
lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ nêu lên quan điểm, cho rằng: “Mỗi một hệ Ngân Hà là một
đơn vị thế giới. Đơn vị thế giới lấy núi Tu Di làm trung tâm, núi Tu Di chẳng thuộc
địa cầu, cũng chẳng nằm trong Thái Dương Hệ, mà là do nhiều hằng tinh xoay tròn
[tạo thành]. Núi Tu Di chính là lỗ đen (black hole) do các nhà thiên văn phát
hiện, là trung tâm của một Ngân Hà hệ”.
(Theo HT Tịnh Không - Chuyển ngữ: Như Hòa ) |