Lược giảng giáo nghĩa Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện - P 6
29.07.2010 18:42
Nguyện thứ hai: Xưng tán Như Lai Chánh kinh: Phục thứ, thiện nam tử! Ngôn xưng tán Như Lai giả, sở hữu tận pháp giới, hư không giới, thập phương tam thế, nhất thiết sát độ, sở hữu cực vi, nhất nhất trần trung, giai hữu nhất thiết thế gian cực vi trần số Phật. Nhất nhất Phật sở, giai hữu Bồ Tát hải hội vi nhiễu.
Ngã đương tất dĩ thậm thâm thắng giải, hiện tiền tri
kiến, các dĩ xuất quá Biện Tài thiên nữ vi diệu thiệt căn. Nhất nhất thiệt căn
xuất vô tận âm thanh hải. Nhất nhất âm thanh, xuất nhất thiết ngôn từ hải, xưng
dương tán thán nhất thiết Như Lai chư công đức hải, cùng vị lai tế, tương tục bất
đoạn, tận ư pháp giới vô bất châu biến.
Như thị hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng
sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, ngã tán nãi tận, nhi hư không giới
nãi chí phiền não vô hữu tận cố, ngã thử tán thán vô hữu cùng tận. Niệm niệm
tương tục, vô hữu gián đoạn. Thân ngữ ý nghiệp vô hữu bì yểm.
(Lại nữa thiện nam tử! Nói “xưng tán Như Lai” là: Tất
cả cực vi trần trong tất cả hết thảy cõi nước cùng tận pháp giới, hư không giới,
mười phương ba đời. Trong mỗi một vi trần đều có chư Phật nhiều như số cực vi
trần trong hết thảy thế gian, nơi mỗi đức Phật đều có hải hội (19) Bồ Tát vây
quanh.
Tôi sẽ đều dùng sự hiểu biết thù thắng (20) rất sâu, tri kiến hiện tiền
(21), [trước mỗi đức Phật] đều hiện lưỡi vi diệu hơn lưỡi của Biện Tài thiên nữ
(22). Mỗi một lưỡi phát xuất vô tận biển âm thanh. Mỗi một âm thanh phát xuất hết
thảy biển ngôn từ, xưng dương tán thán biển công đức của hết thảy Như Lai đến
cùng tận đời vị lai liên tục chẳng ngừng, tột cùng pháp giới không đâu chẳng trọn
khắp.
Như thế hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng
sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền não tận, tôi khen ngợi mới tận. Nhưng vì hư
không giới cho đến phiền não chẳng có cùng tận, sự tán thán này của tôi chẳng
có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn, thân ngữ ý nghiệp chẳng hề
mệt chán)
Như Lai khác với chư Phật như thế nào? Vì sao không
nói “xưng tán chư Phật”? Chư Phật và Như Lai có sai khác. Kinh nói Phật, nói đến
chư Phật là nói từ mặt Tướng, nói trên mặt Sự. Nói đến Như Lai là nói từ Tánh
(bản tánh). Trên mặt sự tướng chúng ta phải bình đẳng cung kính, chẳng phân biệt,
chấp trước. Chúng ta tôn kính Phật, Bồ Tát; phàm phu, quỷ thần chúng ta cũng phải
tôn kính. Tâm tôn kính và lễ mạo và tôn kính chư Phật chẳng sai khác, cho đến kính
sự, kính vật cũng chẳng sai biệt. Đó gọi là “lễ kính chư Phật”.
Xưng tán không giống như thế. Lễ kính là vô điều kiện,
xưng tán có điều kiện. Kẻ ác làm chuyện ác, chẳng thể khen ngợi việc họ làm là
rất tốt. Sát sanh và trộm cắp cũng chẳng thể khen ngợi. Kẻ sát sanh và trộm cắp
chúng ta phải lễ kính, nhưng việc họ làm chúng ta chẳng thể khen ngợi được.
Xưng tán là có điều kiện, phải là thiện hạnh và tương ứng với tự tánh thì mới
xưng tán. Chẳng tương ứng tự tánh thì chúng ta lễ kính nhưng không xưng
tán.
Phương pháp tu hành này có thể thấy từ năm mươi ba lần
tham học của Thiện Tài đồng tử. Năm mươi ba vị thiện tri thức thị hiện các hạnh,
các nghiệp, có những hạnh nghiệp đáng nên tán thán, có những hạnh nghiệp chẳng
thể tán thán. Thiện Tài đồng tử lễ kính năm mươi ba vị thiện tri thức, đảnh lễ
ba lạy, hữu nhiễu ba vòng, thái độ cung kính hoàn toàn tương đồng như kính Phật
và tán thán bọn họ.
Thế nhưng, đối với ba người, Thiện Tài chỉ bình đẳng đảnh lễ
nhưng không tán thán: Thắng Nhiệt Bà La Môn đại diện cho ngu si, Cam Lộ Hỏa
Vương nóng tánh, đại diện cho sân khuể; Phạt Tô Mật Đa nữ là kỹ nữ, đại diện
tham ái. Tham - Sân - Si là ba độc phiền não, Thiện Tài chẳng xưng tán.
Xưng tán là khen ngợi cái hay, ngôn hạnh của người đó
rất đáng học theo, đáng làm gương cho chúng ta thì mới được đại chúng tán thán.
Ngôn hạnh chẳng đáng cho mọi người bắt chước theo thì chẳng thể tán thán. Sự
xưng tán của Phổ Hiền Bồ Tát là xứng tánh, chẳng giống với việc khen ngợi bình
thường, bởi lẽ dụng tâm chẳng tương đồng, mục đích chẳng tương đồng, cảnh giới
cũng chẳng tương đồng, giống như chư Phật khen ngợi nhau. Chủ - bạn chứa đựng lẫn
nhau, hết thảy chư Phật cũng khen ngợi lẫn nhau.
Kinh A Di Đà vốn là kinh “được
hết thảy chư Phật hộ niệm”. Không vị Phật nào chẳng giảng kinh A Di Đà, kinh Vô
Lượng Thọ. Giảng kinh là tán thán A Di Đà Phật, tán thán y chánh trang nghiêm của
Tây Phương Cực Lạc thế giới. Cùng một đạo lý đó, A Di Đà Phật cũng tán thán mười
phương hết thảy chư Phật Như Lai.
Trong Phật pháp thường nói đến pháp môn Tổng Trì, Tổng
Trì là nắm giữ vững tổng cương lãnh. Tổng trì tán thán thì ngôn ngữ rất đơn giản
nhưng ý nghĩa sẽ viên mãn như giảng kinh. Tổng trì tán thán là chấp trì danh hiệu.
Hết thảy các kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật giảng trong bốn mươi chín năm đều nằm
trong một câu Phật hiệu “A Di Đà Phật”. Niệm câu Phật hiệu này là niệm hết tất
cả hết thảy kinh đức Thế Tôn đã giảng trong bốn mươi chín năm, phương tiện đơn
giản, mới biết danh hiệu có công đức to lớn như thế. Niệm A Di Đà Phật là xưng
tán Như Lai.
Xưng tán Như Lai lại còn có một tầng ý nghĩa sâu phi
thường. Như Lai là Chân Như bản tánh. Chân Như bản tánh của hết thảy chư Phật
và Chân Như bản tánh của chính chúng ta là một, chẳng phải hai. Xưng tán Như
Lai là xưng tán tánh đức của Chân Như bản tánh của chính mình. A Di Đà Phật
chính là chúng ta, Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng là chính chúng ta, nên nói:
“Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ”.
Tự tánh là Như Lai, duy tâm cũng là Như Lai.
Niệm Phật là khuôn phép xưng tán Như Lai cao nhất. Niệm kinh Vô Lượng Thọ, kinh
A Di Đà cho đến đọc tụng hết thảy kinh điển Đại Thừa đều là xưng tán Như Lai.
Chúng ta dùng cái tâm thanh tịnh chân thành rộng lớn khôn sánh để xưng niệm, đọc
tụng sẽ tương ứng với nguyện này.
Muốn xưng tán đến mức viên mãn chẳng dễ dàng gì. Dẫu
chẳng dễ dàng chúng ta vẫn phải nỗ lực, làm được một phần là tốt một phần. Chân
chánh phát tâm tu học sẽ được Phổ Hiền Bồ Tát, A Di Đà Như Lai, hết thảy chư Phật
gia trì.
Học Phật chẳng những nhằm để chính mình tu học đạt được lợi ích chân
thật, mà còn là để báo ân Phật, ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân hết thảy chúng
sanh, phải đem những điều hay chân thật phổ biến, đề cao, giới thiệu cho mọi
người. Đề cao, giới thiệu là xưng tán Như Lai. Tổ chức pháp hội diễn giảng kinh
điển là xưng tán, khuyên người niệm Phật là xưng tán, cho đến tại bất cứ thời gian,
địa điểm nào, chúng ta chắp tay niệm một câu A Di Đà Phật đều là xưng tán cả.
Xưng tán như thế được oai thần của Phật gia trì, được cảm ứng hiện tiền là biện
tài.
Trước kia chẳng khéo ăn nói, nay nói rất khéo, đó là Phật lực gia trì. Còn
có một sự thật do chính tôi thể nghiệm: Kinh điển Phật pháp (thiện pháp) tôi
nói rất dễ, ác pháp một câu nói không được. Với thiện pháp có biện tài, với ác
pháp không có vậy!
Cảnh giới của nguyện này cũng rộng lớn giống như nguyện
trước. Phổ Hiền Bồ Tát nói: “Xưng dương tán thán biển công đức của hết thảy Như
Lai đến tận cùng đời vị lai, liên tục chẳng đoạn, tột cùng pháp giới, không đâu
chẳng trọn khắp”. Chúng ta có làm được như thế hay không? Điều này thật sự tùy
thuộc tâm lượng của chúng ta.
Giống như sóng vô tuyến điện, chỉ cần chẳng bị
núi cao ngăn trở, sóng điện phát xạ truyền xa vô lượng vô biên; nếu trong khoảng
đó bị chướng ngại thì sóng điện bị gián cách. Tâm của chúng ta cũng giống như
thế: Trong tâm có phân biệt, có chấp trước, có phiền não như núi cao, âm ba
xưng dương liền bị chướng ngại, bèn có phạm vi, chẳng thể trọn khắp pháp giới tột
cùng hư không. Nếu tâm quý vị rất thanh tịnh, chẳng có phân biệt, chấp trước,
chẳng có vọng tưởng, công đức xưng dương đúng là trọn khắp pháp giới, tột cùng
hư không.
Do đây biết rằng: mấu chốt thật sự là Nhất Tâm, dùng ba tâm (tức tâm
vọng tưởng, chấp trước, phân biệt) thì chướng ngại trùng trùng, chẳng thể trọn khắp.
Phật dạy chúng ta: Quyền Giáo Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên
Giác, lục đạo phàm phu đều dùng tám Thức. Tám Thức quy nạp lại là ba tâm hai ý.
Ba tâm là A Lại Da Thức, Mạt Na Thức và Đệ Lục Thức. Nhị Ý chỉ Mạt Na Thức (thức
căn) và Đệ Lục Thức (ý thức). Chẳng dùng tam tâm nhị ý là dùng Chân Như bản
tánh, chỉ cần dùng được Chân Như bản tánh quyết định sẽ trọn khắp pháp giới.
Sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch chú giải kinh Lăng Nghiêm của Giao Quang đại sư căn
cứ vào nghĩa kinh, dạy chúng ta “bỏ Thức dùng Căn”.
Bỏ Thức là trong sanh hoạt
thường nhật, thấy Sắc nghe Tiếng chớ dùng tám Thức mà phải dùng Chân Tánh. Phàm
phu mắt thấy là dùng Nhãn Thức để thấy, tai nghe là dùng Nhĩ Thức để nghe, tức
là dùng sáu Thức. Đại sư dạy chúng ta dùng tánh Thấy để nhìn, dùng tánh Nghe để
nghe, xoay trở lại như vậy, lập tức thành Phật. Bỏ Thức, dùng Tánh của Căn. Tánh
của Căn là thật, chẳng phải hư vọng. Đại Sư đề xướng rất hay, đích thực là bổn
ý giảng kinh Lăng Nghiêm của Thế Tôn, chẳng hiểu sai lạc.
Trong phần Tự, đại sư Giao Quang có kể một câu chuyện
đáng cho chúng ta thức tỉnh, học theo. Giao Quang đại sư mắc bệnh nặng, A Di Đà
Phật đến tiếp dẫn Ngài vãng sanh. Công phu niệm Phật chẳng lầm, Phật đến tiếp dẫn,
Ngài sực nghĩ các bản chú giải kinh Lăng Nghiêm từ cổ đến nay đều chưa nói lên
được bổn ý của Phật.
Ngài hướng về A Di Đà Phật xin hẹn, mong ở lại thế gian để
viết bản chú giải mới cho kinh Lăng Nghiêm, chú giải xong mới đi. A Di Đà Phật gật
đầu cho phép, Sư được lành bệnh. Đó cũng là sanh tử tự tại, đến đi tự do. Bởi
thế, âm thanh xưng tán chẳng thể trọn khắp pháp giới thì chúng ta phải coi lại mình
đang dùng cái tâm gì. Cổ đại đức dạy chúng ta hai nguyên tắc lớn để học Phật:
1) Nghe kinh phải “tiêu quy tự tánh”: nghe xong phải
tương ứng với tự tánh, trọn chẳng được vừa nghe vừa suy nghĩ lung tung.
2) Tu hành chẳng quản là niệm Phật, trì chú hay tham
thiền, tám vạn bốn ngàn pháp môn đều phải “chuyển Thức thành Trí”. Đấy cũng như
nói chẳng dùng tám Thức, chẳng dùng ba tâm hai ý, phải dùng Tự Tánh, dùng căn
tánh của sáu căn vậy.
“Vì hư không giới cho đến phiền não chẳng có cùng tận,
sự tán thán này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn”:
Bồ Tát dạy chúng ta nhất tâm xưng niệm, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp, chẳng
hoài nghi mà tu học pháp môn này. “Thân ngữ ý nghiệp chẳng hề mệt chán”: chẳng
có chán nản, mệt mỏi.
Nếu dụng công đắc lực đúng pháp, xác thực là chẳng mệt,
chẳng chán. Có đồng tu niệm Phật đắc lực, một câu Phật hiệu trong lúc ngủ vẫn
niệm, mệt mỏi cũng vẫn niệm, niệm đến thân tâm tự tại, khoái lạc khôn sánh. Người
chân chánh niệm Phật, càng niệm tinh thần càng phấn chấn, thân thể càng khỏe mạnh.
Thân thể chúng ta do vì có vọng tưởng, chấp trước, phiền
não nên thân thể phát sanh biến hóa, biến thành chẳng bình thường, có bệnh tật.
Hiện tại, địa cầu bị môi trường ô nhiễm, mất cân bằng sanh thái, địa cầu đổ bệnh
cũng chẳng bình ổn. Xú khí tằng (tầng ozone) bị lủng, trời cũng bất bình thường.
Thân thể có bệnh mà thể chất biến đổi sẽ tự nhiên khôi phục bình thường. Thế
nào là tự nhiên? Trong tâm chẳng có sự là tự nhiên.
Tâm vốn là vô sự. Lục Tổ đại
sư nói: “Bổn lai vô nhất vật” (vốn không có một vật). Vốn không có một vật là tự
nhiên. Nếu như tâm quý vị thanh tịnh, chẳng có vật gì, thân quý vị sẽ tự nhiên khôi
phục, tế bào nơi thân thể đổi mới tổ chức, trở thành ổn định vô cùng, thân thể
bèn khang kiện, cũng chẳng đổ bệnh, sống lâu.
Người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới ai nấy vô lượng
thọ, ai nấy trường sanh bất lão, nguyên nhân là do họ vĩnh viễn giữ gìn tự
nhiên. Muốn biến đổi thể chất chỉ có tu tâm thanh tịnh. Thế gian bàn chuyện thuốc
men, tẩm bổ đều chẳng đáng tin.
Người tánh tình ôn hòa thiện lương chẳng dễ
sanh bệnh; người nóng nảy, hung hăng, tánh tình bất hảo thường hay đau bệnh. Biết
được chân tướng sự thật, liền hiểu nên làm như thế nào. Thân ngữ ý nghiệp không
mệt chán là cương lãnh tu học, cũng là công phu chân chánh, phải nỗ lực học tập.
|