<!DOCTYPE html>
	<html lang="vi" xmlns="http://www.w3.org/1999/xhtml" prefix="og: http://ogp.me/ns#">
	<head>
<title>Ăn Chay</title>
<meta name="description" content="Ăn Chay - Savefile - Tin Tức - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;chuathanhlangson.com&#x002F;savefile&#x002F;phat-hoc-pho-thong&#x002F;An-Chay-5269.html">
<meta name="author" content="Chùa Thành Lạng Sơn">
<meta name="copyright" content="Chùa Thành Lạng Sơn [trananhls.1984@gmail.com]">
<meta name="robots" content="index, archive, follow, noodp">
<meta name="googlebot" content="index,archive,follow,noodp">
<meta name="msnbot" content="all,index,follow">
<meta name="generator" content="NukeViet v4.0">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<meta property="og:title" content="Ăn Chay">
<meta property="og:type" content="website">
<meta property="og:description" content="Savefile - Tin Tức - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;chuathanhlangson.com&#x002F;savefile&#x002F;phat-hoc-pho-thong&#x002F;An-Chay-5269.html">
<meta property="og:site_name" content="Chùa Thành Lạng Sơn">
<meta property="og:url" content="https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/An-Chay-5269.html">
<link rel="shortcut icon" href="https://chuathanhlangson.com/uploads/lotus.png">
<link rel="canonical" href="https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/An-Chay-5269.html">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/" title="Tin Tức" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/tin-tuc/" title="Tin Tức - Tin tức thời sự" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/phat-hoc-pho-thong/" title="Tin Tức - Giáo lý Phật pháp" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Chuyen-Dao-Doi/" title="Tin Tức - Chuyện Đạo & Đời" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/phat-giao-tuoi-tre/" title="Tin Tức - Tuổi trẻ tươi sáng" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/nep-song/" title="Tin Tức - Triết lý nhân sinh" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Suc-Khoe/" title="Tin Tức - Sức Khỏe - Y Học" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Vu-Lan-33/" title="Tin Tức - Công trình xây dựng chùa Tân Thanh" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Xu-Lang-Que-Toi/" title="Tin Tức - Xứ Lạng Quê Tôi" type="application/rss+xml">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/assets/js/jquery/jquery.min.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/assets/js/language/vi.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/assets/js/global.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/news.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/main.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/bootstrap.min.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/fix_banners.js">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/assets/css/font-awesome.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/css/bootstrap.non-responsive.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/css/style.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/css/style.non-responsive.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/css/news.css">
<link href="https://fonts.googleapis.com/css?family=Dancing+Script" rel="stylesheet">
<style>
	body{background: #fff;}
</style>
	</head>
	<body>
<div id="print">
	<div id="hd_print">
		<h2 class="pull-left">Chùa Thành Lạng Sơn</h2>
		<p class="pull-right"><a title="Chùa Thành Lạng Sơn" href="https://chuathanhlangson.com/">https://chuathanhlangson.com</a></p>
	</div>
	<div class="clear"></div>
	<hr />
	<div id="content">
		<h1>Ăn Chay</h1>
		<ul class="list-inline">
			<li>Thứ sáu - 28/10/2011 07:58</li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-print">&nbsp;</em><a title="In ra" href="javascript:;" onclick="window.print()">In ra</a></li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-power-off">&nbsp;</em><a title="Đóng cửa sổ này" href="javascript:;" onclick="window.close()">Đóng cửa sổ này</a></li>
		</ul>
		<div class="clear"></div>
		<div id="hometext">
			Kinh sách trích dẫn: Kinh Lăng-Già, Kinh Ương-Quật-Ma, Kinh Niết-Bàn, Kinh Tứ-Thiên-Vương, Luận Trí-Ðộ, Kinh Ðịa-Tạng, Kinh Phạm-Võng, Kinh Ðề-Vị, Tư-Trì-Ký, An-Sĩ-Toàn-Thơ, Tuyên-Luật-Sư-Cảm-Ứng-Ký.
		</div>
		<div id="bodytext" class="clearfix">
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ðề yếu: Ở Việt-Nam,
không những Phật-giáo, mà trong các tôn-giáo khác cũng có nhiều người ăn chay.
Riêng về đạo Phật, tuy phần đông đều dùng chay lạt, song ít ai hiểu xác đáng sự
lý của việc nầy. Về phần sự, có người ăn chay kỳ không trúng ngày tháng, hoặc
không kiêng cữ hành, hẹ, tỏi, kiệu, có kẻ lại gia vị vào các thứ như tôm khô, hào
khô. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Do đó nên công đức không được toàn vẹn. Về phần lý, nhiều người không hiểu
nguyên do chánh đáng của việc ăn chay, hoặc lầm tin theo tà thuyết, hay tưởng ăn
chay nhiều là tu nhiều rồi sanh lòng ngã mạn. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Do chỗ phát tâm không chánh ấy, nên
kết cuộc sự thực hành cũng không bền. Ngoài ra, có vị đem lòng nghi cho thuyết ăn
chay là do tập tục của Trung-Hoa đặt ra, chớ không phải chính Phật nói, bằng cớ
là những vị ở các xứ thuộc Nam-tông Phật-giáo vẫn ăn mặn mà cũng chứng thánh-quả.
Sở dĩ có mối nghi đó, là vì họ chưa hiểu rõ nghĩa phương tiện của Nhị-thừa và
nghĩa chân thật của Ðại-thừa. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lại có người nghi rằng: có lẽ khi xưa Phật cũng ăn
mặn, vì khi đi khất thực, dân chúng cúng thức gì dùng thức ấy, tại sao ta bắt buộc
phải ăn chay? - Xin đừng đem tâm chúng sanh mà trắc lượng việc ấy, vì chúng ta
là phàm phu không thể sánh với Phật là bậc đại giải thoát, có đầy đủ thần thông
phương tiện trong khi hóa độ hữu-tình. Vả lại, trong các kinh liễu nghĩa, Ðức
Thế-Tôn đã nêu rõ nguyên nhân hợp tình lý của sự không dùng huyết nhục, khuyên
bảo đệ-tử nên dùng chất thanh đạm, thì ta cứ y theo lẽ phải và lời Phật dạy mà
thực hành. Hơn nữa, theo kinh Ương-Quật-Ma, thì chẳng những riêng Ðức Thích-Ca,
mà tất cả chư Phật đều không dùng huyết nhục.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ðể giúp người học Phật trên phương diện tiến tu, trong đây trình bày các sự lý,
lời khuyên của Như-Lai cùng cổ-đức về việc ăn chay, giới sát, phóng sanh. Mong
rằng các mục nơi bản chương có thể đem lại cho duyệt giả những điều hữu ích.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;"><strong>Tiết I: Ý Nghĩa Của Sự Ăn Chay</strong>&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Theo quan niệm phổ thông của hàng Phật-tử Việt-Nam, ăn chay là dùng những chất
thanh đạm, không ăn cá thịt và các thứ hôi nồng thuộc về loại ngũ tân (hành, hẹ,
tỏi, nén, hưng cừ). Nếu dùng cá thịt và ngũ tân, người ta gọi là ăn mặn. Nhưng
thật ra, chữ “Chay” nói trại từ nguyên âm “Trai” và Trai có nghĩa là Trung hoặc
Thời-thực. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trung hay Thời-thực là dùng bữa giữa ngày vào giờ Ngọ, nếu ăn quá ngọ
gọi là phi thời thực. Còn dùng chất thanh đạm, nên gọi là “tố-thực”, nghĩa là “ăn
lạt”, mới xác đáng hơn. Tuy nhiên, chữ Trai dịch từ Phạm-âm Ô-Ba-Va-Sa-Tha
(Upavasatha), lại có nghĩa là “thanh-tịnh”. Và bởi ăn lạt cũng có tánh cách làm
cho thân tâm con người nhẹ nhàng thanh tịnh, nên bên Ðại-thừa-giáo mới chuyển lần
ý nghĩa Tố-thực xem đồng như Trai-thực. Vậy tiếng “Chay” tuy không hoàn toàn xác
đáng với nguyên ủy của nó, nhưng cũng có một phần nào ý nghĩa, nên bút giả xin
dùng danh từ nầy với ý dùng chất thanh đạm cho hợp với quan niệm phổ thông của
Phật-tử Việt-Nam.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Phần đông Phật-tử không hiểu xác đáng ý nghĩa ăn chay, nếu có hỏi duyên do thì
trả lời một cách đại khái: “Tôi ăn chay để tập lần tánh nết cho thêm bình tĩnh
hiền lương”. Lại có những lời đồn huyễn bảo: “Ăn chay sẽ khỏi tai nạn bom nguyên
tử, hoặc ma vương sắp ra đời, hay sắp tận thế, ai không ăn chay sẽ bị chết hết,
không được dự hội Long-Hoa”. Những truyền thuyết như trên đều không có căn bản,
làm cho nhiều người cố tự ép ăn chay một cách gắng gượng, kết cuộc qua một thời
gian rồi cũng thôi bỏ. Theo Phật-giáo, ăn chay có những ý nghĩa như sau:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">1- Vì lòng thương xót chúng-sanh: Ðã là loại hữu-tình, loài nào cũng biết đau đớn
buồn khổ và ham sống sợ chết, trừ những duyên cớ riêng biệt. Chính mình khi bị vấp
ngã hay đứt tay một chút, còn cảm thấy đau đớn, huống chi là cảnh đâm chém, đập
giết, thiêu nướng, xẻ thịt, banh da! Như thế tại sao ta lại nỡ an nhiên vui vẻ,
ăn uống trên sự đau khổ vô hạn của chúng-sanh? 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chính mình khi sắp bị giết đã khóc
thương sợ hãi, hoặc người thân bị giết thì cũng xót xa, oán hận, đau buồn! Như
thế tại sao ta lại nỡ làm cho chúng-sanh khác sợ hãi đau thương lúc sắp bị giết,
bị chia ly cùng quyến thuộc? Ðức Phật là đấng đại từ bi, nên người con Phật thể
theo lòng từ bi đó mà ăn chay, để tránh việc trực tiếp hoặc gián tiếp sát sanh đầy
thê thảm ấy. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong kinh Lăng-Già, Ðức Thế-Tôn bảo Ðại-Huệ Bồ-Tát: “Những người ăn
thịt đoạn hết hạt giống đại từ. Ta xem chúng-sanh luân-hồi trong sáu nẻo, đời đời
làm cha mẹ anh em chồng vợ con cái lẫn nhau. Chúng-sanh ăn thịt nhau, toàn là ăn
thịt lục thân quyến thuộc của mình. Thế mà loài hữu-tình mơ màng không biết, thường
sanh lòng giết hại, làm cho nghiệp khổ thêm lớn, khiến nên mãi bị lưu chuyển
trong đường sanh-tử, không được thoát ly. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Kẻ không ăn thịt, sẽ được vô lượng công
đức tụ. Nếu tất cả mọi người không ăn thịt, thì không ai giết hại chúng-sanh.
Do có người ăn thịt tìm hỏi để mua, nên mới có kẻ vì cầu tài lợi giết chúng-sanh
để bán. Cho nên kẻ ăn thịt cùng người giết chúng-sanh để bán thịt, cả hai đều có
tội”.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">2- Vì tránh ác báo của nghiệp sát: Bởi tham miếng ngon, nên con người mới tạo
nghiệp giết hại. Nhưng vì Vô-minh che lấp, không rõ thấu lý nhân-quả, nên kẻ gây
nghiệp sát đâu biết hành vi đó trở lại làm khổ chính mình. Theo lý nhân-quả
trong kinh, người tạo sát nghiệp, như nặng tất bị đọa vào Tam-đồ, nhẹ thì phải
chịu nhiều đau bịnh, hoặc chết yểu, cùng sự khổ nạn về chiến tranh. Kinh Niết-Bàn
nói: “Tội sát sanh có ba bậc: thượng, trung, hạ.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;"> Nghiệp sát bậc hạ, là giết từ
loài kiến cho đến tất cả Bàng-sanh. Người tạo tội nầy phải bị đọa vào Tam-đồ,
chịu sự khổ về bậc hạ. Tại sao thế? Bởi loài nhỏ dù là con kiến, con muỗi cũng
có chút căn lành, nếu giết nó thì phải chịu tội báo. Nghiệp sát bậc trung là giết
từ phàm-phu trong loài người cho đến bậc A-na-hàm. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Người tạo tội nầy phải bị đọa
vào Địa-ngục, Ngạ-quỷ, Bàng-sanh, chịu sự khổ về bậc trung. Nghiệp sát bậc thượng
là giết từ cha mẹ cho đến bậc A-la-hán, Bích-Chi-Phật. Người tạo tội nầy, phải
bị đọa vào đại Địa-ngục A-Tỳ, chịu sự khổ về bậc thượng”.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">3- Vì muốn dứt tâm tham nhiễm nơi vị trần: Trong mười pháp-giới, nếu nói tóm tắt,
duy có hai nẻo: phàm và thánh. Phàm phu tâm còn nhiễm ô phiền não, chư thánh tâm
hằng sáng sạch lặng trong. Bởi thế cho nên hàng Phật-tử muốn vượt phàm lên thánh,
thoát nỗi khổ luân-hồi, phải bỏ nhiễm về tịnh.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;"> Mà muốn được tịnh tâm, phải ngăn
ngừa đừng cho sáu căn nhiễm sáu trần. Người nào ăn chay mà cảm thấy khó khăn, đó
bởi do còn thích món ăn ngon, nghĩa là thiệt căn còn nhiễm vị trần. Vì thế, muốn
dễ được tịnh tâm, người Phật-tử nên tập lần từ ăn chay kỳ đến chay trường.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Có kẻ hỏi: - Tại sao bên Phật-giáo Nam-tông vẫn còn ăn mặn? Và nếu không thanh
tịnh, tại sao những vị bên phái ấy lại chứng thánh-quả?&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Xin đáp: - Ðức Phật vì tùy hoàn cảnh căn cơ, trong khi nói giáo pháp Nhị-thừa,
phương tiện tạm mở cho ăn ngũ-tịnh-nhục (không thấy giết, không nghe giết, không
nghi giết, thịt con thú tự chết, thịt loài thú khác ăn còn dư). Nhưng đến khi
thuyết qua giáo nghĩa Ðại-thừa, Ngài lại triệt để cấm dùng đồ huyết nhục, vì lẽ
mất lòng từ bi bình đẳng, và gây nhân vay trả luân-hồi. Như trong kinh Lăng-Nghiêm,
Ðức Thế-Tôn còn khuyên không nên dùng đồ bằng da, bởi còn thọ dụng một thân phần
của chúng-sanh tức là còn mắc nợ nó, huống chi là thường ăn thịt?&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong kinh Ương-Quật-Ma, ngài Văn-Thù Bồ-Tát thưa: “Bạch Thế-Tôn! Phải chăng nhân
vì Như-Lai-tạng, nên chư Phật không ăn thịt?&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ðức Phật bảo: “Nầy Văn-Thù! Tất cả chúng-sanh từ vô thỉ đến nay sống chết luân-hồi
từng cùng làm lục thân quyến thuộc, thay đổi vô thường cũng như trò hát. Thân mình
và thân loài khác đồng là chất huyết nhục, vì thế nên chư Phật không ăn thịt. Lại
nữa, chúng-sanh giới tức là ngã giới, thịt loài khác chính là thịt của mình, nên
chư Như-Lai không ăn thịt.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nầy Văn-Thù! Như con bò tự chết, người chủ dùng da nó làm giày dép đem bố thí kẻ
giữ giới. Như bậc giữ giới không thọ tức là pháp Tỷ-khưu; nếu thọ trì tuy không
phải phá giới, song thiếu tâm từ bi. Cho nên, không thọ dụng thân phần của hữu-tình,
tức là lần lượt lìa nhân duyên sát sanh vậy”.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ðời Ðường bên Trung-Hoa, Ðạo-Tuyên luật-sư giữ giới tinh nghiêm, nên chư thiên
thường hiện thân ủng hộ. Cứ theo bộ Tuyên-Luật-Sư-Cảm-Ứng-Ký, Tứ-Thiên-Vương thưa
với Tuyên-sư rằng:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">“Thuở Ðức Như-Lai còn ở đời, một hôm Ngài phóng ánh sáng lớn bảo các thiên,
long, quỷ, thần:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Sau thời chánh-pháp diệt tận, có nhiều vị Tỷ-khưu chấp theo giáo tích Tiểu-thừa
của ta, không hiểu ý nghĩa Tỳ-ni, bảo rằng ta cho các Sa-môn ăn thịt. Vì thế,
trong Tăng-già-lam hiện ra cảnh tượng sát sanh cũng như lò thịt. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lại có các vị
Tỷ-khưu mặc đồ tơ lụa, gần gũi nơi quán rượu dâm xá, không học ba tạng, chẳng
giữ cấm giới, làm cho đạo pháp ta suy vi, thật đáng thương xót! Nên biết từ vô
lượng kiếp đến nay, ta tu Bồ-Tát-hạnh đã xả bỏ đầu, mất, tủy, não, vì tâm từ bi
không tiếc thân mạng để bố thí cho loài hữu-tình, có lẽ nào lại bảo đệ-tử mình ăn
thịt chúng-sanh? 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ta niết-bàn rồi, các Tỷ-khưu thay thế ta làm thầy trời người dẫn
dạy hữu-tình khiến cho đắc đạo quả; có lẽ nào bậc thiên nhơn sư mà lại ăn thịt
chúng-sanh ư? Khi ta mới thành đạo, tuy trong luật có mở ra cho ăn năm thứ tịnh
nhục, nhưng đó không phải thật là thịt của bốn loài, mà là thịt do sức thiền định
bất tư nghì của ta biến hóa ra. Trong các kinh Niết-Bàn, 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lăng-Già, ta không cho
người trì giới ăn thịt. Nếu có Tỷ-khưu nào bảo rằng trong Tỳ-ni-giáo, Phật cho ăn
cá thịt, cho mặc áo tơ lụa, đó là lời ma thuyết, là phỉ báng ta!”&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lời Phật đã dạy như thế, nếu ăn thịt cá mà không trước nhiễm cũng có thể chứng
quả thánh như các vị bên Nam-tông đã tu chứng. Nhưng nếu so hai phương diện ăn chay
và mặn, thì ăn chay dễ đoạn nhiễm tâm hơn; đến như về nghĩa từ bi bình đẳng, bên
ăn chay lại hoàn toàn hợp lý. Thế nên biết giáo nghĩa Nhị-thừa chỉ là phương tiện
tạm thời, giáo nghĩa Ðại-thừa mới là chân thật cứu cánh. Vậy người tu nên hướng
theo lẽ phải và xét lại năng lực của mình, đừng quá cầu cao tự cho là bậc viên
dung tự tại, vội nói câu “Tửu nhục xuyên trường quá. Bất ngại bồ-đề đạo” (Chất
rượu thịt ăn vào cũng ra ngoài, không ngại chi đến sự giải thoát cả) mà lầm.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">4- Vì để cho thân tâm nhẹ nhàng, dễ thực hành trên đường tu: Ăn chay nếu đúng cách
thì hợp với vệ sinh, và khiến cho thân tâm thanh tĩnh nhẹ nhàng thuận tiện trên
đường tu tập. So lại thì khi dùng mặn, ta cảm thấy trong người nặng nề mệt nhọc,
chất ăn khó tiêu hơn. Các nhà bác học hữu danh Ðông Tây đã công nhận lẽ đó. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Như
ông Sénèque, một triết gia, đã nói: “Mỗi bữa ăn, người ta dùng thịt là tự đầu độc,
thành thử con người tự sát ngấm ngầm mà không hay. Do đó loài người bị nhiều bịnh
mà chết sớm”. Những y khoa bác sĩ trứ danh như các ông: Soteyko, Varia Kiplami
cũng bảo: “Trong các thứ thịt có nhiều chất độc rất nguy hiểm cho sức khỏe con
người”. Và bà White, nhà nữ bác học, sau một cuộc thí nghiệm đã tuyên bố: “Các
thứ hột, trái cây, đậu và rau cải là những thức ăn mà thiên nhiên đã dành để nuôi
chúng ta. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Các thức ấy chỉ cần nấu nướng một cách đơn giản, thì ăn vào hợp vệ
sinh và rất bổ. Nó làm cho con người thân thể tráng kiện, tinh thần sáng suốt và
tránh được biết bao nhiêu là bịnh tật!” Chất máu thịt vốn là uế trược, hơn nữa
loài thú khi bị giết sanh lòng uất hận, độc khí lưu trữ vào tế bào, hoặc gặp nhằm
những con vật mang bịnh, như bịnh lao, bịnh sán..., nếu người ăn vào làm sao khỏi
sanh đau yếu?&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Có vị hỏi: - Nếu ăn chay cũng đủ sinh tố, tại sao tôi thường thấy người ăn chay
trường phần nhiều đều có vẻ xanh và gầy?&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Xin đáp: - Ðó là do nhiều nguyên nhân khác biệt, không phải lỗi ở sự ăn chay;
chẳng hạn như vấn đề tâm lý, hoặc không biết cách thức dùng chay. Về tâm lý, như
có người ăn chay với tánh cách gắng gượng, mãi thèm những đồ mặn, lầm nghĩ rằng
ăn chay thiếu sức khỏe, thường đem lòng lo lắng e ngại. Hoặc có người tu, mà chưa
diệt được niệm tưởng mơ sắc dục, hoặc làm việc suy nghĩ quá nhiều.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Những tâm trạng
ấy có ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe, bằng chứng như ta thường thấy người nào
trải qua một đêm lo nghĩ, sáng ra gương mặt họ hiện rõ vẻ tiều tụy bơ phờ. Về
việc không biết cách dùng chay, như những người vì lỡ phát nguyện, nên ăn chay
một cách bắt buộc lấy có, chỉ dùng tương chao, ít lát dưa, hoặc muối sả ớt cho
qua bữa. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Hơn nữa nhiều người quan niệm tu là phải khổ hạnh, nên không mấy chú ý
đến việc ăn uống; hoặc kho đầu củ cải, vỏ dưa, chiên xơ mít, hay làm những thức
ăn giống đồ mặn rất công phu, song thật sự không có bao nhiêu chất bổ. Ngoài
ra, tập tục của các chùa Việt-Nam thiên về sự tụng niệm, cúng lễ, thường khi liền
cả đêm ngày. Sự sanh hoạt của Phật-giáo Việt-Nam lại nghèo, chư tăng ni thiếu
phương tiện học tập, phải dùng sức quá nhiều, nên vị nào khi học thành tài hầu
hết đều suy gầy, đau yếu. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ðó là đại lược những nguyên do khiến cho người tu thường
kém sức khỏe, chẳng phải lỗi ở nơi không ăn cá thịt. Nếu ăn chay mà hợp cách, với
lòng hiểu đạo hoan hỷ, và đường lối tu không thái quá bất cập, thì đã ít bịnh tật,
lại thêm có lợi ích cho thân tâm.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tóm lại, ý nghĩa của ăn chay là vì lòng từ bi, vì tránh ác báo, vì lìa trần nhiễm,
vì thuận ích cho đường tu. Nếu lập cơ bản nơi bốn điểm nầy mà dùng chay, thì sự
thực hành sẽ bền và tăng thêm phước huệ. Như trái với cơ bản đó, tất việc làm
chỉ có tánh cách thời gian, khó bền bỉ, kết cuộc không được lợi ích gì thiết thật
trên đường tu.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;"><strong>Tiết II: Những Ngày Chay</strong>&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ăn chay có hai phương diện: chay kỳ và chay trường. Ăn chay trường hay trường
trai là hành giả tự nguyện suốt đời dùng chất thanh đạm, không thọ dụng đồ huyết
nhục. Ăn chay kỳ thì có những thuyết: Nhị-trai, Tứ-trai, Lục-trai, Thập-trai,
Nhất-ngoạt-trai, Tam-ngoạt-trai.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nhị-trai là ăn chay mỗi tháng hai lần vào ngày mùng một và rằm. Tứ-trai là ăn bốn
lần chay trong tháng, vào ngày mùng một, mùng tám, rằm, hăm ba (hoặc ba mươi, mùng
một, mười bốn, rằm). Nhất-ngoạt-trai là ăn chay luôn trong một tháng, vào tháng
giêng, tháng bảy, hay tháng mười. Cách thức ăn chay như trên, thật ra không có điển
cứ, chẳng qua là bước tập lần để đi đến trường trai mà thôi. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Bởi ăn chay dù rằng
hữu ích và hợp lý, nhưng cũng tùy theo hoàn cảnh và căn cơ, không phải người Phật-tử
nào cũng có thể bỏ ăn mặn liền trong một lúc được. Vì muốn đạt mục đích trường
trai, có người không y theo lệ trên, mỗi tháng tập ăn chay từ năm, mười, mười lăm
ngày, lần lần cho đến trọn tháng.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lục-trai là ăn chay trong các ngày mùng 8, 14, 15, 23, 29, 30 (tháng thiếu 28,
29). Theo kinh Tứ-Thiên-Vương thì vào những ngày đó, Tứ-Thiên-Vương xem xét việc
lành dữ của nhơn gian, và các ác quỷ cũng rình rập chờ người làm ác để gia hại.
Nên trong mấy ngày ấy, mọi người cần phải giữ gìn ba nghiệp không nên làm ác. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thêm vào đấy, nếu kẻ nào biết trì trai, giữ giới, tụng kinh, tu phước, sẽ được
tránh khỏi nạn tai, tăng phần phước huệ. Luận Trí-Ðộ nói: “Tại sao trong sáu ngày
trai, cần phải thọ tám giới và tu phước? Bởi vào các ngày ấy ác quỷ rình theo
người muốn gia hại, gây những việc tật bịnh hung suy. Vì thế nên thuở kiếp sơ,
trong mấy ngày đó, thánh-nhơn dạy người trì trai, tu phước, làm lành. Nhưng cách
trì trai khi xưa chỉ lấy trọn ngày không ăn, gọi là trai.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;"> Ðến khi Phật ra đời,
chế lại cho thọ Bát-quan-trai-giới trong một ngày đêm, và lấy quá ngọ không ăn
làm trai. Ðức Thế-Tôn đã bảo: - Nên như chư Phật, thọ trì tám giới và không ăn
quá ngọ trong một ngày đêm. Công đức ấy sẽ đưa người mau đến Niết-bàn!”&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thập-trai là ăn chay mười ngày trong mỗi tháng. Kinh Ðịa-Tạng, phẩm Như-Lai-Tán-Thán
nói: “Nầy Phổ-Quảng! Trong các ngày: mùng 1, mùng 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28,
29, 30 (tháng thiếu 27, 28, 29) của mỗi tháng, các tội được kết tập để định phần
khinh trọng. Nếu chúng-sanh đời sau, vào mười ngày trai, đối trước tượng Phật, Bồ-Tát,
Hiền, Thánh, tụng kinh nầy một biến, thì mỗi phương đông, tây, nam, bắc, trong
vòng 100 do-tuần, không các tai nạn”.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tam-ngoạt-trai là ăn chay trong tháng giêng, tháng năm, tháng chín. Thuyết nầy
phát xuất trong các phạm điển như: kinh Phạm-Võng, kinh Ðề-Vị, bộ Hành-Sự-Sao-Tư-Trì-Ký.
Kinh Phạm-Võng nói: “Trong sáu ngày trai và ba tháng trường trai, nếu sát sanh,
trộm cướp, phá trai, phạm giới, phạm tội khinh cấu (đối với người thọ giới Bồ-Tát)”.
Kinh Ðề-Vị bảo: “Vào ngày mùng một tháng giêng, mùng một tháng năm, mùng một tháng
chín, chư thiên Ðế-Thích, Thái-tử sứ-giả, nhật nguyệt Quỷ-thần, Diêm-La ở Địa-ngục,
trăm vạn chư thần an bố khắp nơi. Vì trừ tội danh, định phước lộc, mọi người cần
trì trai trong ba tháng ấy”. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong Tư-Trì-Ký cũng có nói: “Trong tháng giêng,
tháng năm, tháng chín, nghiệp cảnh ở cõi u minh theo vòng xoay chiếu đến châu
Nam-Thiệm-Bộ. Người đời có bao nhiêu việc thiện ác, thảy đều hiện bóng rõ trong
gương. Lại trong mấy tháng đó, Tứ-Thiên-Vương tuần thú đến Nam-châu, cũng là lúc
ác quỷ đắc thế, vì vậy nên phải trì trai, tu phước”.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Theo như trên, thì thuyết Lục-trai, Thập-trai và Tam-ngoạt-trai đều có điểm cứ.
Nhưng để cho đúng với nghĩa trai, thì trong các ngày tháng ấy chẳng những ăn lạt,
mà còn phải không ăn quá ngọ mới phù hợp lời Phật dạy, và có lẽ được nhiều công
đức hơn. Lại theo kinh Phạm-Võng, Đức Phật bảo không nên dùng ngũ-tân gia vị vào
thức ăn, vì những thứ ấy làm cho thân thể hôi và dễ sanh các phiền não như ái dục,
sân hận... 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Như thế thì muốn cho sự tu phước thêm phần toàn vẹn, vào ngày Lục-trai
hay Thập-trai, người Phật-tử nên thọ trì Bát-quan-trai-giới, song phải ăn lạt và
không dùng ngũ vị tân. Thọ trì Bát-quan-trai-giới là giữ tám giới: không sát
sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu, không
trang điểm, không tự hành và cố ý xem nghe ca múa âm nhạc, không ngồi nằm chỗ
cao rộng sang đẹp; và giữ một phép trai là không ăn quá ngọ. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tám điều trước duy
thuộc về giới, vì có công năng đóng ngăn cửa ác, nên gọi là Bát-quan. Một điều
sau gồm nghĩa trai và giới mà trai là phần chánh, nên mới thêm chữ “trai” sau
hai chữ Bát-quan. Như thế, tổng hợp lại chín điều gọi là Bát-quan-trai-giới. Và
đây là nghĩa giải thích của Trí-Ðộ-Luận.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Về việc trong những ngày tháng Lục-trai, Tam-ngoạt-trai ác quỷ đắc thế, có thuyết
nói vào thời gian ấy các ngoại giáo bên Ấn-Ðộ thường theo thông lệ giết sanh vật
cúng tế thần linh, hoặc cắt lấy máu thịt nơi thân để làm phép hộ ma. Và bởi duyên
cớ đó, những ác quỷ cũng y theo lệ mà đi tìm ăn đồ huyết nhục. Do sự kiện nầy,
vào các ngày trên, Đức Phật khuyên đồ chúng nên giữ trai giới không được sát
sanh, để phản ảnh phong thái từ bi của thánh-đạo. Nếu quả như thế thì sự ăn lạt
vào các ngày trai lại càng hợp lý hơn.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ăn chay đã vâng giữ theo lời Phật dạy, có lợi ích, hợp tình lý như trên, thì tất
cả Phật-tử đều nên tùy hoàn cảnh, khả năng tập lần, để tiến bước lên đường phước
huệ. Ðiều cần yếu là khi ăn phải từ nơi cơ bản thiết thật của nó, không nên vì
mê tín phi lý, vì háo danh muốn được tiếng khen mà ăn, hoặc sanh lòng kiêu mạn
trở lại khinh người ăn mặn. Lại ăn chay phải hợp vệ sinh, biết chọn lựa thay đổi
thức ăn, không nên ép xác cố ăn một cách quá kham khổ. Cũng không nên nấu chay
giả thành đồ mặn mà làm trò cười cho thế gian.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;"><strong>Tiết III: Lời Phật Dạy Về Sự Ðoạn Nhục Thực</strong>&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngày nay tai nạn binh lửa lan tràn khắp thế-giới, đó là do nghiệp sát của chúng-sanh
chiêu cảm. Vì thế nên cổ-đức đã bảo: “Tất cả chúng-sanh không nghiệp sát. Lo gì
thế-giới động đao binh!” Vậy muốn cho tai nạn chiến tranh tiêu giảm, không gì hơn
dứt từ cái nhân của nó, nghĩa là mọi người đều nên ăn chay giới sát phóng sanh. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nhưng về việc nầy phận sự thì dễ nhận biết, phần lý ít người suốt thông. Bởi thế
nhiều kẻ khi ăn chay giới sát phóng sanh, không thể phát tâm chí thành thương xót,
nên công đức cũng vì đó mà trở thành kém ít. Vậy khi làm các điều thiện trên, hành
giả phải nhận hiểu phần lý của nó như bốn điểm ở đoạn trước đã nói. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngoài ra lại
cần phải hiểu rằng: tất cả chúng-sanh đều có đủ đức tướng trí huệ của Như-Lai,
nhưng vì bị nghiệp hoặc che lấp tánh diệu minh nên chìm đắm vào hàng dị loại,
chỉ biết tìm cầu món ăn, tránh sợ cái chết mà thôi. Nếu những chúng-sanh ấy ngày
kia nghiệp chướng tiêu giảm, được nghe chánh-pháp, đều có thể tiến tu và được
thành quả Phật. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lại nên nghĩ: ta cùng tất cả chúng-sanh từ vô thỉ đến nay ở
trong nẻo luân-hồi, vì Vô-minh che lấp nên đổi thay sanh sát lẫn nhau. Trong
nhiều kiếp, các loài kia thường làm cha mẹ, anh chị em, chồng vợ, con cái của
ta; và ta cũng đã từng làm cha mẹ, anh chị em, chồng vợ, con cái của cái loài ấy.
Chúng-sanh kia do sức nghiệp ác hoặc ở cõi người, hoặc ở trong hàng dị loại, thường
bị ta giết hại; ta cũng do sức nghiệp ác, hoặc ở cõi người, hoặc ở trong hàng dị
loại, thường bị nó giết hại. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Cảnh tương sanh tương sát như thế đã diễn ra từ vô
lượng kiếp chẳng biết chừng nào dứt, phàm-phu vì mê nên không hiểu, nhưng Như-Lai
thì thấu suốt rõ ràng. Việc ấy nếu không nghĩ đến thì thôi, người biết nghĩ suy
tất không xiết thẹn thuồng, bi mẫn! Nay ta do túc phước được làm người, nên giải
trừ oan kết, ăn chay giới sát phóng sanh; lại vì cứu độ mình và muôn loài, niệm
Phật hồi hướng cầu sanh Cực-Lạc. Xin dẫn một đoạn trong kinh Lăng-Già về nhân
duyên đoạn trừ nhục thực mà Ðức Thế-Tôn đã dạy, để cho hàng Phật-tử thêm sự suy
gẫm trên bước đường ăn chay tu thiện:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">“... Có vô lượng nhân duyên mà hàng Bồ-Tát phải sanh lòng thương xót, không nên
ăn tất cả các thứ thịt. Ta nay vì ông nói ra đây một phần ít:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Nầy Ðại-Huệ! Tất cả loài hữu-tình từ vô thỉ đến nay ở trong vòng sống chết luân-hồi
vô tận, không có chúng-sanh nào chẳng từng làm cha mẹ anh em con cái quyến thuộc,
cho đến chủ tớ, bạn bè, thân thích lẫn nhau. Vậy đối với chúng-sanh đã vì nghiệp
lực phải chịu đọa làm thân thủy tộc, cầm thú, nỡ nào bắt nó mà ăn thịt? Bậc Bồ-Tát-Ma-Ha-Tát
phải quán sát xem tất cả loài hữu-tình đồng với thân mình, nên nghĩ các thứ thịt
kia từ những sanh mạng biết vui khổ thương đau mà có, đâu nỡ an nhiên mà ăn?&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Nầy Ðại-Huệ! Các bọn La-sát nghe ta nói điều nầy còn nên dứt trừ sự ăn thịt,
huống nữa là người ưa vui theo đạo pháp? Trong mỗi đời, Bồ-Tát quán thấy chúng-sanh
đều là quyến thuộc, thường nghĩ xem đồng như con, nên không ăn tất cả các thứ
thịt. Những người bán các thứ thịt trâu bò chó ngựa heo dê nơi chợ phố hàng quán,
vì tâm tham lợi nên tạo nghiệp giết hại; thịt là sở do của tâm hạnh tạp uế như
thế, làm sao Bồ-Tát nên thọ dụng?&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Nầy Ðại-Huệ! Tất cả các thứ thịt đều là chất tinh huyết ô uế, người cầu thanh
tịnh làm sao nên ăn? Kẻ ăn thịt, chúng-sanh thấy đều sợ hãi, người tu từ tâm làm
sao nên ăn? Khi gặp bọn thợ săn cùng kẻ hạ tiện làm nghề bắn giết, bẫy lưới tàn
hại sanh linh, loài chó trông thấy kinh hãi sủa vang, tất cả cầm thú thảy đều dớn
dác trốn chạy. Sở dĩ như thế, bởi các chúng-sanh ấy đều nghĩ rằng: những người
nầy lộ vẻ hung ác dường như quỷ La-sát, nếu ta đến đó tất bị bắt giết, vậy phải
nên xa lánh là hơn. Cũng như thế, người ăn thịt thường bị chúng-sanh ghét sợ xa
lánh. Vì lẽ đó, bậc Bồ-Tát tu hạnh từ bi không nên ăn thịt.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Nầy Ðại-Huệ! Kẻ ưa ăn thịt, thân thể hôi nhơ, tiếng dữ đồn xa, người lành bậc
hiền-thánh không thích gần gũi, vì thế Bồ-Tát không nên ăn thịt. Huyết nhục là
chất chúng Tiên từ bỏ, các Thánh chẳng ưa, bởi thế Bồ-Tát không nên thọ dụng. Bồ-Tát
vì tâm từ mẫn, vì giữ gìn lòng tin của chúng-sanh khiến cho Phật-pháp không bị
chê bai, nên không ăn thịt. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nếu đệ-tử của ta ưa ăn thịt, sẽ bị người tục đem lòng
khinh báng nói rằng: Tại sao hàng Sa-môn tu nghiệp thanh tịnh, lại không bằng hạnh
trong sạch của thiên tiên, mà như ác thú mang đầy bụng thịt cá đi dạo thế gian,
làm cho chúng-sanh thảy đều ghét sợ? Và như thế là kẻ ấy đã phá hạnh thanh tịnh,
mất đạo Sa-môn, thiếu tư cách để điều phục người. Cho nên, Bồ-Tát vì lòng từ mẫn,
muốn nhiếp hộ mọi người khiến cho không sanh tâm niệm ấy, chẳng thọ dụng đồ huyết
nhục.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Nầy Ðại Huệ! Như khi thiêu người chết cùng thiêu thịt của loài vật, cả hai mùi
khí vị không tinh sạch đồng như nhau, tại sao trong ấy thịt người không ăn, lại
ăn thịt loài vật? Vì thế, người ưa hạnh thanh tịnh không nên ăn thịt. Các hàng
thiện nam thiện nữ tu hành khổ nhọc chốn a-lan-nhã, hoặc trụ nơi từ tâm, hoặc
trì chú thuật, hoặc cầu giải thoát, hoặc hướng về Đại-thừa, nhưng vì bởi còn ăn
thịt nên bị nhiều sự chướng ngại, công hạnh không được thành tựu. Cho nên Bồ-Tát
nếu muốn được lợi mình và lợi ích cho chúng-sanh, quyết không nên ăn thịt.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Nầy Ðại Huệ! Kẻ ưa ăn thịt khi thấy hình dáng loài vật đã sanh tâm thèm mùi vị.
Bậc Bồ-Tát phải thương nghĩ chúng-sanh cũng như mình, tại sao vừa thấy hình đã
muốn ăn thịt? Bởi thế, Bồ-Tát phải dứt trừ nhục thực. Người ăn thịt thì nơi miệng
thường hôi nên chư thiên lánh xa, hằng bị Dạ-xoa ác-quỷ đoạt mất tinh khí. Kẻ ấy
giấc ngủ không yên, khi tỉnh dậy lo lắng, tâm nhiều sợ hãi; do tham ăn không biết
vừa đủ, nên thêm nhiều tật bịnh, dễ sanh ghẻ độc, bị các loài tế trùng cắn đúc,
mà cũng vẫn không biết chán nhàm.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Nầy Ðại Huệ! Ta thường bảo: ăn thịt chúng-sanh chẳng khác chi ăn thịt con mình,
vậy đâu phải thật Như-Lai hứa cho đệ-tử ăn thịt? - Thịt chẳng phải thơm ngon,
thịt không tinh sạch, ăn thịt sanh nhiều tội ác, làm hư các công đức, bị chư tiên-thánh
rời bỏ, làm sao Như-Lai lại hứa cho đệ-tử ăn thịt? Bởi thế, kẻ nào nói Như-Lai
chấp nhận cho đệ-tử ăn thịt, tức là phỉ báng ta.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Nầy Ðại Huệ! Nên biết thức ăn thanh tịnh là những thứ như: lúa, nếp, đậu, bắp,
đường, tô du... Các thứ ấy chư Phật đời quá khứ đã hứa cho, ta nay cũng khuyên
bảo như vậy”.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;"><strong>Tiết IV: Mấy Lời Khuyên Của Cổ Ðức</strong>&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Như trên, Đức Phật đã nói có nhiều nhân duyên không nên ăn thịt chúng-sanh, và
bảo hàng đệ-tử nên dùng những chất thanh đạm. Từ xưa đến nay về việc nầy, chư cổ-đức
khuyên dạy cũng đã nhiều. Nơi đây, xin tạm dịch lời văn phóng sanh của Liên-Trì
đại-sư, để cho người học Phật thêm rõ điều nhân-quả trong việc ăn chay giới sát.
Văn rằng:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">“Thảng nghe: Thế gian rất quí trọng không chi hơn thân mạng. Thiên hạ cực đau
thảm chẳng gì bằng sát sanh.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Cho nên, gặp bắt liền trốn chạy, loài rận rệp còn biết thương thân. Sắp mưa đã
dời đi, lũ kiến bọ vẫn tham cuộc sống.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thế sao, lưới nơi vực, bẫy trên non, nhiều phương đuổi bắt. Lại nữa, cong thì câu,
thẳng thì bắn, trăm kế săn tìm?&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Khiến nên phách lạc hồn bay! Xui nỗi mẹ lìa con mất!&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Hoặc giam nơi lồng chậu, như bỏ chốn ngục tù. Hoặc chặt bằng thớt dao, khác nào
bị hình lục.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nai thương con dại, liếm vết thương mà ruột đứt từng phân! Vượn sợ bầy chia, trông
cung uốn mà đôi hàng rỏ lệ! (1)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Cậy ta mạnh mãi hiếp kia ngu yếu, lý có hợp chăng? Thịt nó ăn để mình tự bổ thân,
lòng sao vội nỡ?&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Bởi thế đất trời thương cảm. Cho nên hiền-thánh hành nhân.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Mở lưới, ân rộng thuở Thành-Thang. Nuôi cá, đức lập từ Tử-Sản. (2)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lưu-Thủy đã nên thánh triết, tưới nước xuân nhuận cảnh khô khao. Thích-Ca rõ thật
từ bi, cắt thịt quý cứu cơn nguy nạn. (3)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thiên-Thai-Trí-Giả đào ao phước để phóng sanh. Ðại-Thọ tiên-nhơn hộ chim lành nơi
định thể. (4)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thả lân trùng mà đắc độ, Thọ thiền-sư gương ưu ái hãy còn. Cứu Long-tử được
truyền phương, Tôn-Chơn-nhơn dấu từ bi chửa mất. (5)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Một phen vớt kiến, Sa-di cải mạng vắn thành thọ cao, Thơ-Sanh đổi danh hèn lên
thượng bảng. Giây phút mua rùa, Mao-Bảo nơi cảnh nguy mà thoát nạn, Khổng-Du từ
tước mọn đến phong hầu. (6)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Khuất-Sư thả cá ở Nguyên-thôn, thọ tăng một kỷ. Tùy hầu cứu rắn nơi Tề-dã, châu
trả nghìn vàng.(7)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Cứu trạnh lớn chốn nhà trù, ả tỳ tử khỏi cơn dịch bịnh. Vớt lằn xanh nơi hũ rượu,
gả tửu sinh được miễn gia hình. (8)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ðối vật mạng chốn nha đồ, Trương-đề hình hồn siêu thiên giới. Chuộc sanh linh nơi
thuyền lưới, Lý-Cảnh-Văn giải độc đơn sa. (9)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tôn-Lượng-Tự cứu nguy loài lông cánh, khi thọ chung chim đắp mả mồ. Phan-huyện-đường
lịnh cấm lưới sông hồ, lúc thuyên chức cá rền khóc cảm. (10)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tín-lão bãi sanh tế kẻ ngu dân, điềm bay cam vũ. Tào-khê mở lưới săn người lạp
tử, đạo khắp thần châu. (11)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chim sẻ biết ngậm vành mà báo ân. Loài chồn hay đến giếng để truyền thuật. (12)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Cho đến thân tàn được sống, rết đeo vách trắng để nghe kinh. Cảnh nạn cầu sanh,
lươn hiện áo vàng mà báo mộng. (13)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thế nên ra ơn có trả, chuyện xưa há phải vô bằng. Rõ ràng mắt thấy tai nghe, việc
trước còn ghi sử sách.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Khắp nguyện khi thấy vật loại, phát lòng từ bi; bỏ tiền của không bền, làm việc
lành có ích.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nếu ra ơn cho nhiều mạng, thì chứa lớn âm công. Hoặc làm phước cứu một con, cũng
vẫn là việc tốt.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Như thế ngày thêm tháng góp, hạnh cả đức to. Chừng ấy lành khắp nhơn hoàn, danh
thông thiên phủ.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Rửa tiêu oan chướng, thụy trưng đã dẹp đời nay. Bồi đắp thiện căn, phước báo còn
tươi kiếp khác.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nếu lại giúp xưng hiệu Phật, thêm tụng văn kinh. Ðể vì hồi hướng Tây-phương,
khiến chúng xa lìa ác đạo.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thì chỗ dụng tâm càng lớn, trồng đức càng sâu. Ðạo nghiệp nhờ đó mà mau thành,
liên đài sẽ sanh lên phẩm thượng vậy”.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chú thích:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">1- Hứa-chơn-quân lúc trẻ tuổi ưa đi săn. Một hôm, ông bắn trúng con nai nhỏ,
nai mẹ vội chạy đến liếm vết thương, giây lâu thấy không còn sống được, cũng ngã
ra chết. Chơn-quân lấy làm lạ, mổ bụng nai mẹ ra xem, thấy ruột đứt từng phân đoạn,
biết rằng vì thương con thái quá, đến đứt ruột mà chết. Ông rất hối hận, tự thiết
trách mình, rồi bẻ cung tên, bỏ nhà vào núi tu hành, sau được thành tiên.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Sở-Vương cùng người tôi thân tín là Dưỡng-Do-Cơ đi săn. Vua gặp một con vượn rất
to, bảo Do-Cơ bắn. Vượn trông thấy Do-Cơ liền sa nước mắt. Bởi loài vượn nầy rất
tinh khôn lanh lẹ, có thể bắt được tên bay, nhưng lại gặp Do-Cơ là tay thần xạ,
nó biết mình tất sẽ chết, nên mới bi thương rơi lệ.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">2- Vua Thành-Thang đời nhà Thương cùng bầy tôi xuất du, gặp bọn thợ săn bủa lưới
bốn mặt, vái rằng: “Từ hư không bay xuống. Từ hang bụi chạy ra. Từ bốn phương
chợt đến. Ðều sa vào lưới ta!” Vua liền bảo tùng nhơn mở ba mặt lưới, rồi vái lại
rằng: “Muốn sang tả thì sang. Muốn qua hữu thì qua. Muốn bay lên thì bay. Muốn
thoát ra thì ra. Loài nào không thiết sống. Mới vào lưới của ta!”&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thầy Tử-Sản khi làm quan Ðại-phu nước Trịnh, có người thường đem cho loại cá thịt
ngon, còn sống. Ông không nỡ ăn, bảo người nhà thả xuống ao để nuôi. Ðiều nầy
cho ta thấy việc phóng sanh chẳng những riêng Phật-giáo, mà bậc quân tử bên
Nho-giáo cũng phụng hành.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">3- Trong kinh Kim-Quang-Minh, trưởng-giả Lưu-Thủy, một tín đồ nhà Phật, mùa nắng
ra ngoài chơi. Ðến một nơi, ông thấy có ao nước gần cạn, trong ấy các loài cá hơn
vạn con ở trong cảnh nguy ngập sắp chết. Ông vội trở về, dùng voi chở nước đem đến
đổ đầy ao. Kế đó, trưởng-giả lại vì nó thuyết pháp khiến cho hoan hỷ. Loài cá nầy
nhờ nghe pháp diệu, đều xả mạng được sanh lên cõi trời.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ðức Thích-Ca Mâu Ni thuở tiền thân tu Bồ-Tát-hạnh, có một kiếp làm vị quốc-vương.
Trời Ðế-Thích muốn thử lòng Bồ-Tát, mới hóa làm chim ó bay đuổi bắt con bồ câu.
Thấy bồ câu bay vào lòng quốc-vương lánh nạn và được che chở, chim ó nói: “Ông
vì lòng từ bi muốn cứu nó, tại sao lại nỡ để cho tôi chết?” Vua hỏi: “Ngươi muốn
ăn những gì?” 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chim ó đáp: “Tôi muốn dùng thịt. Xin ông thường tôi số thịt bằng
cân lượng của chim bồ câu”. Vua liền bảo đem cân ra, và tự cắt thịt để đền, nhưng
do sức thần thông của Ðế-Thích, vua cắt hết thịt nơi thân mà dĩa cân bên chim bồ
câu vẫn nặng hơn. Thấy vua sắp chết, chim ó hỏi vua có hối hận không? Vua đáp: “Ta
tu hạnh Bồ-Tát vì cứu độ chúng-sanh, chẳng có một mảy niệm hối hận. Nếu như lời
nầy không hư dối, xin cho thân thể nguyên lành như cũ”. Sau lời thệ nguyện ấy
trời đất rung động, thân thể nhà vua liền được phục nguyên. Trời Ðế-Thích kinh
hãi, hiện thân sám hối và lễ bái khen ngợi.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">4- Trí-Khải đại-sư ở núi Thiên-Thai, được Dượng-Ðế nhà Tùy vì mến danh đức, thụy
phong là Trí-Giả. Ðại-sư đào nhiều ao lớn để phóng sanh, nhà vua sắc chỉ xuống
quan địa phương cấm không cho dân câu lưới ở các nơi đó.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Theo trong kinh, thuở nhơn thọ sống đến hai muôn tuổi, có một vị tiên-nhơn ngồi
nơi gốc cây nhập định. Vì ngồi lâu ngày rễ cây phủ xuống thân, chim đến làm ổ nơi
lòng. Sợ chim kinh hãi, tiên-nhơn ngồi yên không động, chờ nó dời đi nơi khác mới
xuất định.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">5- Vĩnh-Minh thiền-sư, húy là Diên-Thọ, khi chưa xuất-gia làm chức Khố-lại ở huyện
Dư-Hàng, triều Ngô-Việt-Vương. Ngài thường lấy tiền kho mua tôm cá để phóng
sanh. Sau việc phát giác ra, bị ghép vào tội hành hình nơi chợ. Trước khi gia hình,
vua dặn quan giám sát xem ngài có đổi sắc không rồi trở lại phúc tấu. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ðược biết
ngài vẫn an nhiên, vua cho vời đến hỏi duyên cớ, ngài tâu rằng: “Thần lấy tiền
kho không phải để dùng riêng mà vì cứu độ sanh mạng. Giả sử thân nầy có mất,
linh thức cũng nhờ đó được sanh về Cực-Lạc; như thế chẳng là vui hơn ư!” Vua
nghe tâu, tha cho về. Từ ấy ngài xuất-gia, sau ngộ đạo trở thành bậc danh đức.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tôn-chơn-nhơn khi chưa thành tiên, một hôm xuống núi gặp mấy đứa trẻ bắt con rắn
lạ đem căng ra chơi, xem con vật tình thế nguy khổn sắp chết. Chơn-nhơn lấy tiền
chuộc rắn, đem thả xuống nước. Sau khi đó, ông gặp đồng tử áo xanh thỉnh đến một
công phủ, hỏi ra là cung Thủy-Tinh. Bên trong một vị vương giả bước ra đón chào,
rước vào mời ngồi nơi bảo tọa, rồi thưa rằng: “Gia nhi hôm trước đi dạo chơi,
ngẫu nhiên mắc nạn, nếu chẳng gặp được tiên sanh chắc là tánh mạng không còn!”
Nhân bày yến tiệc thiết đãi, lại đem ra các thứ châu báu để đền ơn. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chơn-nhơn tạ
từ không nhận, và nói: “Tôi nghe ở Long-cung có nhiều bí phương. Nếu có thể,
xin truyền cho tôi đem cứu đời còn quí hơn là châu ngọc”. Vương giả liền trao
cho một bảo cấp, trong ấy có 36 thần phương. Nhờ đó, chơn-nhơn y thuật càng tinh,
sau chứng được tiên phẩm.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">6- Thuở xưa, có ông Sa-di theo hầu vị A-la-hán. La-hán biết Sa-di bảy ngày nữa
sẽ mạng chung, liền cho về nhà viếng thăm cha mẹ. Tám hôm sau, ông Sa-di bình yên
trở lại. Vị La-hán lấy làm lạ, nhập định để xem xét, thấy khi ông trở về nửa đường
có dùng áo ca-sa vớt một bầy kiến đang bị khổn giữa dòng nước, liền biết sở dĩ đệ-tử
mình được tăng thọ là do nhờ duyên phước đó. - Lại một chuyện: Tống-Giao và Tống-Kỳ,
hai anh em đồng đi thi. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Một hôm trời mưa, Tống-Giao thấy vô số kiến bị nước cuốn
sắp trôi vào lỗ hủng, liền lấy cọng trúc ngăn lại, bắc thành cầu để cho nó bò lên
chỗ khô. Trước khi vào thi, Giao gặp vị Tây-tăng xem tướng và nói: “Dường như ông
đã vừa cứu vài trăm muôn sanh mạng thì phải?” Giao từ tốn bảo mình nghèo, không
có năng lực làm được việc công đức ấy. Vị tăng nói: “Chẳng phải thế đâu! Loài vật
dù nhỏ cũng đều là sanh mạng”. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Giao đem việc cứu kiến ra thưa lại. Vị tăng bảo:
“Ðúng như thế! Kỳ thi nầy lệnh đệ sẽ đứng đầu hàng sĩ tử, còn địa vị của ông cũng
không kém hơn đâu!” Quả nhiên, sau khi kiểm danh, Tống-Kỳ đỗ Trạng-nguyên, Tống-Giao
vào hàng thứ mười. Nhưng triều đình cho rằng em không nên đứng trước anh, đổi Tống-Kỳ
đỗ hàng thứ mười, Tống-Giao lên hàng đệ nhất.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Mao-Bảo khi còn hàn vi, đi đường gặp người mang một con rùa, liền mua mà phóng
sanh. Sau ông làm tướng ra trận bị thua, té xuống sông bị nước lôi cuốn sắp chết
chìm. Ðang lúc nguy cấp, ông cảm thấy có con gì đỡ chân mình đưa sang bờ bên
kia. Chừng lên bờ, xem lại thì là một con qui rất lớn đang quay mình bơi đi. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">-
Lại một chuyện: Khổng-Du trước là một quan chức nhỏ, thường mua rùa để thả. Mỗi
lần phóng sanh, rùa đều quay đầu lại ngó chừng ông, rồi sau mới lần bơi đi xa.
Về sau Khổng-Du nhờ may mắn lập nhiều công trạng, nên được phong hầu. Khi đúc ấn,
thì hình con rùa trên ấn quay đầu lại, phá hủy đến bốn năm khuôn để đúc lại, cũng
vẫn y như trước. Thợ đúc ấn kinh ngạc, đem việc ấy thưa lên Khổng-Du. Ông suy
nghĩ bỗng nhớ lại việc xưa, và hoảng nhiên biết mình được phong hầu hôm nay là
do nhờ phước báo của sự thả rùa khi trước.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">7- Khuất-sư ở Nguyên thôn gặp người lưới được một con cá lý đỏ, liền mua mà phóng
sanh. Sau ông nằm mộng thấy Long-vương mời đến thủy cung, bảo: “Thọ số của ông
vốn đã mãn, nhưng nhờ công đức cứu rồng, nên được tăng thêm một kỷ”.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tùy-hầu đi qua nước Tề, giữa đường gặp một con rắn bị khổn ở bãi cát, đầu có máu
chảy, xem dường như kiệt sức. Ông liền lấy gậy vít thả nó xuống nước, rồi bỏ đi.
Khi trở về đến chỗ ấy, ông thấy rắn ngậm hạt châu bò đến trạng như muốn hiến dâng,
song vì sợ nên không dám lại lấy. Ðêm đến Tùy-hầu nằm mộng thấy chơn đạp một
con rắn, kinh hãi tỉnh giấc, tìm được bên mình hai hạt châu sáng rỡ.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">8- Có nhà họ Trình tánh ưa ăn thịt loài rùa trạnh. Một hôm nhà nầy mua được con
trạnh rất lớn, bảo người tớ gái đem giết để làm thức ăn. Ðứa tớ thấy con trạnh
lớn có ý hơn sợ, liền đem thả nơi ao. Khi chủ nhà về thấy món ăn không có thịt
trạnh, gạn hỏi, đáp là vì hơ hỏng để nó bò đi mất, do đó bị một trận đòn nên thân.
Sau đứa tớ gái mang bịnh dịch nặng, người nhà khiêng đến thủy các để chờ cho chết. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ðêm ấy có con vật từ dưới ao bò lên mang bùn ướt đắp trên mình đứa tớ gái, nhờ đó
sức nhiệt độc tiêu trừ, bịnh được thuyên giảm. Sáng ra người chủ thấy đứa ở chưa
chết, vẻ mặt lại tươi tỉnh, lấy làm lạ hỏi duyên cớ. Cô tớ gái không dám dấu, đem
sự thật thưa lại. Chủ không tin, đến đêm rình xem, thấy chính là con trạnh đã thất
lạc khi trước. Cả nhà kinh ngạc than thở, từ đó không ăn thịt loài rùa trạnh nữa.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Một anh chàng nấu rượu, mỗi khi có con lằn xanh sa vào hũ rượu liền vớt ra để
chỗ đất khô, lại lấy tro đắp lên mình. Tro rút nước, con lằn được sống. Như thế
lâu ngày, anh cứu loại lằn xanh rất nhiều. Sau có người đem tội trộm vu báng,
anh không thể tự biện bạch, sắp bị gia hình. Khi quan chánh-án cầm bút muốn phê
quyết, thì có nhiều lằn xanh bay đến bu đậu vào ngòi, đuổi xong, nó bay lại như
cũ, không xuống bút được. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Viên chánh-án nghi có chuyện oan ức, cho đòi người vu
báng đến gạn hỏi nhiều cách; kết cuộc kẻ ấy phải thú nhận chính mình là thủ phạm,
và anh nấu rượu được tha về. Việc nầy đồn ra, ai nấy đều lấy làm lạ.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">9- Quan Ðề-hình họ Trương thường đến nhà đồ mua vật mạng để phóng sanh. Ðến
sau, lúc lâm chung, ông bảo người nhà rằng: “Ta nhân cứu nhiều vật mạng, chứa
phước đức đã sâu dày. Nay có chư Thiên đến rước, ta sắp sanh về cõi trên”. Nói
xong, an nhiên mà qua đời.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lý-Cảnh-Văn thường đến thuyền lưới mua loài thủy tộc để phóng sanh. Ông vốn ưa đạo
tiên, thường luyện chất đơn sa để uống. Nhân đó tích nhiệt thành bịnh, phát ung
thư nơi lưng, không thuốc nào trị được, sắp chết. Một hôm, trong lúc mơ màng, ông
thấy có loài cá đến rút chất độc, nhả nhớt mát vào chỗ đau; khi tỉnh dậy thấy
trong người mát mẻ thơ thới, bịnh lần lần lành.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">10- Tôn-Lương-Tự khi gặp loài chim bị lưới bắt, liền mua mà thả. Sau ông chết,
vì nghèo nên không có quan quách tẫn liệm. Lúc ấy có vô số chim bay đến, ngậm đất
đắp thành mồ. Người xung quanh đều kinh hãi khen ngợi, cho là do đức từ chiêu cảm.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Phan-Công khi làm huyện lịnh, cấm không cho dân chúng vào những sông hồ trong vùng
câu lưới cá, kẻ nào trái phạm liền bắt gia tội. Sau ông đi trấn nhậm nơi khác,
dân trong huyện nghe dưới nước có tiếng rền rĩ như khóc than luôn cả mấy ngày.
Ai nấy đều than thở cho là chuyện lạ.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">11- Nhân lúc trời khô hạn, Hoằng-Tín đại-sư thấy dân muốn sát sanh để đảo võ,
thương xót cho thói mê tín, đến nơi bảo: “Nếu các ngươi không sát sanh cúng tế,
ta sẽ cầu mưa giùm cho”. Dân chúng hứa nhận, Ðại-sư tinh thành cầu đảo, mưa lớn
xuống nước đầy đồng. Do đó người gần xa đều cảm hóa.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lục-tổ khi được truyền y bát ở Hoàng-Mai, vì cơ duyên chưa đến, mặc đồ thế tục ở
ẩn trong bọn người săn bắn. Thợ săn bảo ngài giữ lưới để họ đi đuổi thú. Ngài
nhân lúc họ đi vắng mở lưới thả bớt rất nhiều, như thế luôn cả 16 năm. Sau Tổ mở
đạo tràng ở Tào-Khê, đức cao vọng trọng, độ người vô số, đạo pháp chia thành năm
tông.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">12- Dương-Bảo khi còn thơ ấu, thấy chim sẻ vàng bị chim cắt đánh rơi xuống đất,
lại bị loài kiến làm khổn, liền đem vào nhà nuôi nấng, đợi cho lành mạnh mới thả
đi. Ít lâu sau, ông nằm mộng thấy đồng tử áo vàng đến bái tạ, tặng cho bốn vòng
ngọc, và bảo: “Tôi là sứ-giả của Tây-vương-mẫu, nhờ ngài cứu mạng nên đến tạ ơn.
Nguyện cho con cháu của ngài hiền lương, lên ngôi tam công, như những chiếc vòng
nầy vậy”. Quả nhiên về sau dòng dõi của ông được quí hiển đến bốn đời.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Một ông đạo nghe nói ăn củ Huỳnh-tinh có thể sống lâu, muốn thí nghiệm, để nhiều
Huỳnh-tinh dưới giếng khô, dụ người xuống giếng, rồi rút mất thang dây, đậy nắp
giếng lại chỉ chừa một lỗ thông hơi. Người nọ trong lúc nguy nan vô kế, chợt thấy
một con chồn ló đầu xuống bảo: “Ðừng lo sợ, tôi sẽ có cách cứu ông. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Loài chồn
chúng tôi khi học phép thông thiên đào huyệt nơi gò mả, rồi nằm dưới đáy huyệt tụ
thần chăm chỉ ngó ngay miệng hang, lâu lâu thân hình tự nhiên bay ra khỏi mặt đất.
Trong Tiên-kinh gọi “thần hay đưa hình bay đi” chính là phép nầy. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Vậy ông nên
quên hết mọi duyên chỉ chăm chú nhìn nơi lỗ thông hơi, tự sẽ được thoát nạn.
Khi trước tôi bị thợ săn bắt, nhờ ông chuộc đem thả, nên nay đến báo ơn”. Người
ấy làm y lời, hơn một tuần sau, thân hình bay ra khỏi giếng. Ông đạo trông thấy
rất mừng, cho đó là sự ứng nghiệm của vị Huỳnh-tinh, đem một mớ củ nầy xuống giếng,
ước với các đồng bạn sau một tháng sẽ mở nắp giếng ra. Tới kỳ, đồng bạn đến xem
thì ông đã chết mất.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">13- Liên-Trì đại-sư một hôm đi dạo bên ngoài, thấy có người bắt mấy con rết, dùng
những mảnh tre mỏng uốn cong lại căng đuôi đầu. Ðại-sư liền chuộc mà thả, thì
duy có một con còn mạnh chạy đi, kỳ dư đều ngất ngư muốn chết. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Sau ban đêm đại-sư
ngồi nói chuyện với người bạn trong am, có một con rết bò nơi vách kề bên mình.
Ngài dùng cây thước gõ mạnh nhiều lần ra ý đuổi, song nó vẫn ở mãi không chịu đi.
Ðại-sư trực nhớ lại việc trước, liền bảo: “Có phải khi xưa ngươi nhờ ta cứu mạng,
nên đến đây tạ ơn chăng? Nếu quả thế, hãy lặng yên nghe ta thuyết pháp để được
siêu thoát”. Liền thuyết rằng: “Tất cả hữu-tình, do tâm tạo ra. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tâm hung dữ hóa
ra cọp sói, tâm sân độc hóa thành rắn rết. Ngươi hãy trừ tâm nóng độc, tất sẽ
thoát được thân hình nầy!” Nói xong bảo đi, thì không đợi xua đuổi mà nó lần lần
bò ra cửa sổ. Người bạn mục kích cảnh tượng ấy, kinh ngạc cho là việc hy hữu.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Hồ-Dã-Can ở Hàng-Châu, nhân người hàng xóm bị trộm, sai con gái đến thăm và cho
một rổ lươn. Ông hàng xóm tiếp nhận đem rộng vào chiếc hũ lớn, lâu ngày rồi quên
đi. Một đêm người ấy nằm mộng thấy có mười vị mặc áo vàng, đội mũ nhọn, đến quì
xin cứu mạng. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thức dậy trong lòng nghi sợ đến hỏi thầy bói, được quẻ ứng rằng: “Ðó
là có loài vật muốn cầu phóng sanh, nên trở về tìm trong nhà sẽ biết”. Người hàng
xóm về nhà tìm trong hũ, thấy có rộng mấy con lươn vàng lớn, đếm ra đủ mười
con. Ông ta kinh hãi, liền đem thả hết. Ðây là sự việc trong năm Vạn-Lịch thứ
chín, đời nhà Minh.</span></p>
		</div>
				<div id="author">
						<p>
				<strong>Nguồn tin:</strong>
				HT Thiền Tâm
			</p>
		</div>
	</div>
	<div id="footer" class="clearfix">
		<div id="url">
			<strong>URL của bản tin này: </strong><a href="https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/An-Chay-5269.html" title="Ăn Chay">https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/An-Chay-5269.html</a>

		</div>
		<div class="clear"></div>
		<div class="copyright">
			&copy; Chùa Thành Lạng Sơn
		</div>
		<div id="contact">
			<a href="mailto:trananhls.1984@gmail.com">trananhls.1984@gmail.com</a>
		</div>
	</div>
</div>
        <div id="timeoutsess" class="chromeframe">
            Bạn đã không sử dụng Site, <a onclick="timeoutsesscancel();" href="https://chuathanhlangson.com/#">Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập</a>. Thời gian chờ: <span id="secField"> 60 </span> giây
        </div>
        <div id="openidResult" class="nv-alert" style="display:none"></div>
        <div id="openidBt" data-result="" data-redirect=""></div>
<script src="https://chuathanhlangson.com/assets/js/jquery/jquery.min.js"></script>
<script>var nv_base_siteurl="/",nv_lang_data="vi",nv_lang_interface="vi",nv_name_variable="nv",nv_fc_variable="op",nv_lang_variable="language",nv_module_name="news",nv_func_name="savefile",nv_is_user=0, nv_my_ofs=0,nv_my_abbr="GMT",nv_cookie_prefix="nv4",nv_check_pass_mstime=1738000,nv_area_admin=0,nv_safemode=0,theme_responsive=0,nv_is_recaptcha=1,nv_recaptcha_sitekey="6LfAUHYUAAAAAGgoZZaLvBT8i740FIBrHubaqU07",nv_recaptcha_type="image",nv_recaptcha_elements=[];</script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/assets/js/language/vi.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/assets/js/global.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/news.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/main.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/bootstrap.min.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/fix_banners.js"></script>
</body>
</html>