<!DOCTYPE html>
	<html lang="vi" xmlns="http://www.w3.org/1999/xhtml" prefix="og: http://ogp.me/ns#">
	<head>
<title>Ma và Ngạ Quỷ</title>
<meta name="description" content="Ma và Ngạ Quỷ - Savefile - Tin Tức - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;chuathanhlangson.com&#x002F;savefile&#x002F;phat-hoc-pho-thong&#x002F;Ma-va-Nga-Quy-4697.html">
<meta name="author" content="Chùa Thành Lạng Sơn">
<meta name="copyright" content="Chùa Thành Lạng Sơn [trananhls.1984@gmail.com]">
<meta name="robots" content="index, archive, follow, noodp">
<meta name="googlebot" content="index,archive,follow,noodp">
<meta name="msnbot" content="all,index,follow">
<meta name="generator" content="NukeViet v4.0">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<meta property="og:title" content="Ma và Ngạ Quỷ">
<meta property="og:type" content="website">
<meta property="og:description" content="Savefile - Tin Tức - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;chuathanhlangson.com&#x002F;savefile&#x002F;phat-hoc-pho-thong&#x002F;Ma-va-Nga-Quy-4697.html">
<meta property="og:site_name" content="Chùa Thành Lạng Sơn">
<meta property="og:url" content="https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/Ma-va-Nga-Quy-4697.html">
<link rel="shortcut icon" href="https://chuathanhlangson.com/uploads/lotus.png">
<link rel="canonical" href="https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/Ma-va-Nga-Quy-4697.html">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/" title="Tin Tức" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/tin-tuc/" title="Tin Tức - Tin tức thời sự" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/phat-hoc-pho-thong/" title="Tin Tức - Giáo lý Phật pháp" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Chuyen-Dao-Doi/" title="Tin Tức - Chuyện Đạo & Đời" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/phat-giao-tuoi-tre/" title="Tin Tức - Tuổi trẻ tươi sáng" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/nep-song/" title="Tin Tức - Triết lý nhân sinh" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Suc-Khoe/" title="Tin Tức - Sức Khỏe - Y Học" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Vu-Lan-33/" title="Tin Tức - Công trình xây dựng chùa Tân Thanh" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Xu-Lang-Que-Toi/" title="Tin Tức - Xứ Lạng Quê Tôi" type="application/rss+xml">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/assets/js/jquery/jquery.min.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/assets/js/language/vi.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/assets/js/global.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/news.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/main.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/bootstrap.min.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/fix_banners.js">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/assets/css/font-awesome.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/css/bootstrap.non-responsive.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/css/style.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/css/style.non-responsive.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/css/news.css">
<link href="https://fonts.googleapis.com/css?family=Dancing+Script" rel="stylesheet">
<style>
	body{background: #fff;}
</style>
	</head>
	<body>
<div id="print">
	<div id="hd_print">
		<h2 class="pull-left">Chùa Thành Lạng Sơn</h2>
		<p class="pull-right"><a title="Chùa Thành Lạng Sơn" href="https://chuathanhlangson.com/">https://chuathanhlangson.com</a></p>
	</div>
	<div class="clear"></div>
	<hr />
	<div id="content">
		<h1>Ma và Ngạ Quỷ</h1>
		<ul class="list-inline">
			<li>Thứ hai - 01/08/2011 06:50</li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-print">&nbsp;</em><a title="In ra" href="javascript:;" onclick="window.print()">In ra</a></li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-power-off">&nbsp;</em><a title="Đóng cửa sổ này" href="javascript:;" onclick="window.close()">Đóng cửa sổ này</a></li>
		</ul>
		<div class="clear"></div>
		<div id="hometext">
			Nếu không có linh hồn, thì địa ngục có hay không? Ngạ Quỷ là ai ? Nhà họ ở đâu ? Họ sống bằng cách nào ? Lễ Vu Lan có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không? Ngày đại lễ Vu Lan có phần cúng Mông Sơn Thí Thực, người hay đi chùa chỉ nghe nói cúng Mông Sơn, mà ít nghe nói cúng thí. Vậy Mông Sơn Thí Thực, bốn chữ này phải có ý nghĩa gì đặc biệt mà người ta phải dùng?. Một mâm lễ nhỏ, một nồi cháo trắng gọi là cúng cháo. Tại sao phải cúng cháo?
		</div>
		<div id="bodytext" class="clearfix">
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngày nay, Ma vẫn
là bí ẩn đối với nhân loại, có những câu chuyện nói về Ma, nhưng cũng không thể
kết luận được là có Ma. Qua cái nhìn của Văn hóa và Tôn giáo Việt Nam, thì con
người gồm có một phần xác và một phần hồn. Khi phần xác chết&nbsp; thì phần hồn
sẽ lìa khỏi xác và phần này được gọi là linh hồn. Nếu linh hồn đó không có cơ hội
đầu thai hoặc nơi trú ngụ, mà còn vương vất ở những nơi có liên quan đến họ khi
còn sống,&nbsp; thì&nbsp; từ ngữ bình dân thường&nbsp; gọi là : Ma, Hồn ma, Quỷ,
Cô hồn...&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ma hay Hồn ma, là một khái niệm trừu tượng, trên thực tế, khi nói đến ma người
ta thường diễn tả thấy một dáng người, trắng bạc, hay một cái bóng lờ mờ, hoặc
một đống đen thùi lùi, còn chỗ ở của ma là những ngôi mộ, nhưng ma cũng có thể
vương vất ở những nơi tăm tối, vắng vẻ. Theo quan điểm một số người nói là :
chỉ có người có duyên với Ma&nbsp; thì mới có thể nhìn thấy được Ma hay những
người có khả năng đặc biệt còn gọi là các nhà ngoại cảm là có thể thấy và nói
chuyện được với Ma.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Một số khác cho rằng Ma có thể biết được tất cả những gì người sống nghĩ và các
việc đã, đang và sắp xảy ra như kết quả xổ số, đồng thời cũng có khả năng tác
nhập xác của người sống như hiện tượng lên đồng, tác động lên cảm quan người
sống như dắt người sống đi lạc vào bụi, xúi người sống ăn đất mà tưởng ăn bánh
hoặc ma có thể tác động lên vật chất như tạo ra tiếng động, rung cây, xô lệch
bàn ghế... Đại đa số người ta chỉ nói : Ma chỉ nhát người chứ không hại người.
Những người thường hay tin có Ma là phụ nữ, trẻ em, người già, sống ở vùng miền
quê.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngày nay, Ma vẫn là bí ẩn đối với nhân loại, có những câu chuyện nói về Ma,
nhưng cũng không thể kết luận được là có Ma. Sự bí ẩn này còn bị hạn chế trong
tầm hiểu biết của con người. Các nhà cận tâm lý học có rất nhiều nghiên cứu về
hiện tượng ma quỷ nhưng vẫn chưa có khẳng định khoa học nào.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Theo các giả thuyết khoa học Ma có thể là do các sóng hạ âm gây ra, gió biển
mạnh thổi nhanh dọc theo các hành lang và tháp canh của những lâu đài và biệt
thự cổ tạo ra các sóng hạ âm được cho là nguyên nhân gây ra hiện tượng nghe
tiếng ma ở các nơi này. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Các nhà khoa học còn có giả thuyết: Mỗi con người chúng ta đều phát ra một từ
trường có tần số dao động riêng, khi ta chết đi, nguồn sóng từ trường vẫn tồn
tại. Khi có một ai đó có tần số phù hợp, sẽ kích thích từ trường này, làm cho
người xung quanh nơi đó thấy lại những cảnh sinh hoạt trước đây của người chết.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong tín ngưỡng dân gian, người ta thường dùng các loại bùa chú, thánh giá,
máu chó, tỏi, củ hành, cây dâu, cây đồng đình... để trừ ma, nhưng đôi khi các
vật này không tác dụng gì với Ma mà họ cũng chẳng giải thích được tại sao Ma
lại không sợ. Các thầy ngải dùng linh hồn, thường là chết oan, để trù ếm và
luyện các các loại ngải có tác dụng hại người.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Mỗi quốc gia đều có những huyền thoại về Ma khác nhau, do đó Ma cũng trở thành
đa dạng.&nbsp; Thí dụ như ở Việt Nam có ma da, ma le, ma gà, ma lai, ma trơi,
ma không đầu, ma lưỡi dài, ma một mắt, ma cổ dài...Ở phương Tây thì có ma sói,
ma cây, ma cà rồng.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Theo Phật giáo, Ma&nbsp; gọi đúng hơn là ngạ quỷ, là một trong lục đạo luân
hồi, xếp trên súc sanh và địa ngục. Loài ngạ quỷ có hai nơi ở, một là nước Diêm
La của nó, hai là sống trên dương gian cùng với người, vì vậy người ta hay nói
đi đêm có khi gặp quỷ. Cuốn Petavatthu (Peta = Quỹ + vatthu = Truyện) là quyển
sách thứ bảy trong Khuddaka Nikaya.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Kinh này tiếng việt gọi là Tiểu bộ kinh, một bộ kinh mà Đức Phật đã dạy đầy đủ
và chi tiết nhất cho các đệ tử của Ngài, đặc biệt là đệ tử xuất gia. Làm cách
nào để từ cuộc sống đầy bùn nhơ này mà vươn lên được, cũng như hoa sen vươn lên
được mà không bị bùn nhơ vấy bẩn?&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Đọc Khuddaka Nikàya ta chúng ta sẽ ngạc nhiên khi thấy xã hội cách đây hơn 20
thế kỷ rồi, mà vẫn chẳng khác gì ờ đầu thế kỷ 21 này. Đức Phật và các đệ tử
xuất gia của Ngài cũng bị chửi bới, cũng bị lăng nhục, như&nbsp; xã hội thời
nay. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Kinh Bhàravàja (người cày ruộng) có ghi Đức Phật&nbsp; bị người ta kết án là ăn
không ngồi rồi. Kinh Vasalasuttam (Kẻ bần tiện) Đức Phật&nbsp; bị người ta kêu
la mắng chưởi giữa đường kẻ trọc đầu, sa môn ti tiện, bần tiện, hãy dừng lại.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Kinh Udana (ud.43) Đức Phật bị người ta vu oan qua mẩu chuyện các du sĩ ngoại
đạo khác đã giết một nữ du sĩ có tên là Sundari, rồi đem chôn nàng vào cái hố
trong cái mương tại Jetavana trong khu vườn của trưởng giả Anàthapindika. Sau
khi đã thực hiện xong thủ đoạn, họ đến thưa với vua Pasenadi của nước Kosala.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nhà vua lập tức hỏi họ xác của Sundari chôn ở đâu? Họ liền dẫn đến chỗ đã chôn
xác Sundari, đào lên rồi khiêng xác đặt lên giường đi vào thành Savatthi từ
đường này đến đường khác, chúng làm cho dân chúng tức giận nói rằng: <i>“các người hãy xem công việc của các Thích
tử! Vô liêm sĩ, là sa môn Thích tử này, theo ác giới, theo ác pháp, nói láo (….)
sa môn hạnh của chúng đã đi đâu mất”[11].&nbsp;</i></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Khuddaka Nikàya là quyển thứ năm của bộ Kinh Tạng (Sutta Pitaka). Bộ kinh này
gồm có : Trường Bộ (Digha Nikaya), Trung Bộ (Majjhima Nikaya), Tương Ưng Bộ
(Samyutta Nikaya), Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya), và Tiểu Bộ (Khuddaka
Nikaya).&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Con người được coi như một tiểu thiên địa, một vũ trụ thu nhỏ. Vũ trụ bao la có
vô số hệ mặt trời có sự sống giống như trái đất. Một hệ mặt trời mà có 1 hành
tinh có sự sống có thể tạm gọi là Tam Giới.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong ABHIDHAMMA chương 10 có nói về Tam Giới và nó có 31 cõi được phân loại
như sau:&nbsp; 11 cõi dục giới, 16 cõi sắc giới, 4 cõi vô sắc giới. Mỗi cõi có
cấu tạo vật chất hoàn toàn khác nhau. Tiểu Thế Giới gồm 1.000 cái Tam Giới,
Trung Thế Giới gồm 1.000 Tiểu Thế Giới,&nbsp; Đại Thế Giới gồm 1.000 Trung Thế
Giới. Còn Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới là vô tận.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tam giới phát triển qua 4 giai đoạn :&nbsp; Thành, Trụ, Hoại, Không. Một chu kỳ
Thành, Trụ, Hoại, Không của Tam Giới gọi là Trụ Kiếp, 4 Trụ Kiếp được gọi là
Đại Kiếp. Các dạng sống trên Tam Giới thường khởi đầu bằng sự Hóa Sanh khi hội
đủ Duyên hay điều kiện. Sau đó mới có Thai Sanh, Noãn Sanh. Một năm thế gian
tính tương đối là 365 ngày.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Dục giới gồm có 11 cõi : 4 cõi khổ và 7 cõi thiện dục giới như sau :&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">1. Ðịa Ngục (Niraya): Cõi này chỉ có mọi sự thống khổ chứ không có sự an vui,
nơi mà các chúng sinh Tự Trừng Phạt do các Ác Nghiệp đã tạo. Cõi khổ có tuổi
thọ không nhất định.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">2. Ngạ Quỹ (Pettivisaya): Chúng không phải là ma quỹ vô hình, chúng có sắc thân
nhưng mắt người không thể thấy được. Chúng không có cảnh giới riêng và luôn
luôn bị đói khát. Chúng sống ở nhiều nơi khác nhau, nhà dân, rừng núi, hang
động hay các chỗ nhớp nhúa. . . Cõi khổ có tuổi thọ không nhất định.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">3. Súc Sanh (Tiricchānayoni): Các sinh vật đi ngang, bò đi, không đi thẳng như
người, còn gọi là Bàng sanh, gần như là tất cả sinh vật bình thường trừ con
người. Cõi khổ có tuổi thọ không nhất định.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">4. A-Tu-La (Asurakāya): Asura nghĩa là những vị không có hoan lạc hay không
chói sáng. Những chúng sanh này rất hung dữ, hay gây gổ. Loại A-Tu-La sanh ở
đây không giống với loại A-Tu-La chư thiên chuyên gây chiến với chư thiên và
sống ở cõi Tam Thập Tam Thiên. Cõi khổ có tuổi thọ không nhất định.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">5. Cõi người (Manussa): những người có tâm cao thượng, do đó phải hiểu rằng
được làm người là rất khó, tất cả mọi đứa trẻ bình thường được sinh ra đều là
những thiên thần, chính cuộc sống và những người xung quanh biến chúng thành
quái dị, con người là cái gì đó rất thiêng liêng và cao quý.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">6. Tứ Thiên Vương (Cātummahārājika): đây là cõi thấp nhất trong các cõi chư
thiên. Tuổi thọ 9.000.000 tuổi người. Dưới nó còn có các chư thần thấp hơn như
sơn thần, thổ địa, thánh mẫu . . . (thường 1 ngày của họ bằng 1 tháng, 1 năm
hoặc hơn tùy theo tầng cao hay thấp)&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">7. Tam Thập Tam Thiên (Tāvatimsa): Ðế Thích (Magha) cư ngụ ở đây. Sở dĩ gọi như
vậy vì theo tích truyện có 33 vị dưới sự hướng dẩn của Ðế Thích đã làm những
việc thiện và được tục sinh tại đây. Tuổi thọ 36.000.000 tuổi người.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">8. Dạ Ma Thiên (Yāma): Yam nghĩa là tàn phá, diệt trừ. Nơi đây mọi đau khổ đều
được trừ diệt. Tuổi thọ 144.000.000 tuổi người.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">9. Ðâu Suất Ðà Thiên (Tusita): những vị sống sung sướng. Theo tục truyền, vị Bồ
Tác tương lai (Di Lặc) đang sống tại đây và chờ cơ hội thuận tiện để tái sinh
làm người và thành Phật. Tuổi thọ 576.000.000 tuổi người.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">10. Hóa Lạc Thiên (Nimmānarati): những vị sống hoan lạc trong những lâu đài tự
tạo ra. Tuổi thọ 2.304.000.000 tuổi người.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">11. Tha Hóa Tự Tại Thiên (Paranimmitavasavatti): những vị đem dưới quyền của
mình các vật do các vị khác đã hóa hiện. Tuổi thọ 9.216.000.000 tuổi người.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Sắc Giới gồm 16 cõi:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Cõi Sơ Thiền Sắc Giới có:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Phạm Chúng Thiên (Brahmapārisajjā): đây là cảnh giới thấp nhất. Những vị sanh
ra ở đây là đồ chúng của Ðại Phạm Thiên (Mahābrahmā). Tuổi thọ 1/3 Trụ Kiếp.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Phạm Phụ Thiên (Brahmapurohitā): những vị sanh ra ở đây sẽ là phụ tá cho Ðại
Phạm Thiên. Tuổi thọ 1/2 Trụ Kiếp. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ðại Phạm Thiên (Mahābrahmā): các vị sanh ở đây có hình thái đẹp, hưởng nhiều
hạnh phúc và sông lâu hơn các vị sinh trong 2 cảnh trời trên. Tuổi thọ 1 Trụ
Kiếp.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Cõi Nhị Thiền Sắc Giới có :&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thiểu Quang Thiên (Parittābhā). Tuổi thọ 2 Đại Kiếp. 
    <br />Vô Lượng Quang Thiên (Appamānābhā). Tuổi thọ 4 Đại Kiếp. 
    <br />Quang Âm Thiên (Ābhassarā). Tuổi thọ 8 Đại Kiếp. 
    <br />Cõi Tam Thiền Sắc Giới : 
    <br />Thiểu Tịnh Thiên (Parittasubhā). Tuổi thọ 16 Đại Kiếp. 
    <br />Vô Lượng Tịnh Thiên(Appamanāsubhā). Tuổi thọ 32 Đại Kiếp. 
    <br />Biến Tịnh Thiên (Subhakinhā). Tuổi thọ 64 Đại Kiếp. 
    <br />Cõi Tứ Thiền Sắc Giới có: 
    <br />Quảng Quả Thiên (Vehapphalā). Tuổi thọ 500 đại kiếp. 
    <br />Vô Tưởng Thiên (Asaññasattā). Tuổi thọ 500 đại kiếp. 
    <br />Vô Phiền Thiên (Avihā). Tuổi thọ 1.000 đại kiếp, nhóm cõi Phước Sanh Thiên. 
    <br />Vô Nhiệt Thiên (Atappā). Tuổi thọ 2.000 đại kiếp, nhóm cõi Phước Sanh Thiên. 
    <br />Thiện Hiện Thiên (Sudassā). Tuổi thọ 4.000 đại kiếp, nhóm cõi Phước Sanh Thiên.
    <br />Thiện Kiến Thiên (Sudassì). Tuổi thọ 8.000 đại kiếp, nhóm cõi Phước Sanh Thiên.
    <br />Sắc Cứu Kính Thiên (Akaniṭṭhā). Tuổi thọ 16.000 đại kiếp, nhóm cõi Phước Sanh
Thiên.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Vô Sắc Giới gồm 4 cõi.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Không Vô Biên Xứ Thiên (Ākāsānañcāyatanabhūmi). Tuổi thọ 20.000 đại kiếp. 
    <br />Thức Vô Biên Xứ Thiên (Viññānancāyatanabhūmi). Tuổi thọ 40.000 đại kiếp. 
    <br />Vô Hữu Xứ Thiên (Ākiñcāññāyatanabhūmi). Tuổi thọ 60.000 đại kiếp. 
    <br />Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên. (Nevasaññānāsaññāyatanabhūmi). Tuổi thọ
84.000 đại kiếp. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Theo lời của Đức Phật Thích Ca thì có thể Thiền Tuệ đạt đến Diệt Thọ Tưởng
Định, lúc đó sẽ là Vô Sinh – Vô Diệt, thoát khỏi sinh tử luân hồi.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngạ Quỷ là ai ? Nhà họ ở đâu ?&nbsp; Họ sống bằng cách nào ?&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong cõi khổ thứ hai có tuổi thọ không nhất định của Dục giới có miêu tả về
Ngạ Quỷ (Pali gọi là Pettivisaya). Chúng không phải là ma quỷ vô hình, chúng có
sắc thân nhưng mắt người không thể thấy được. Chúng không có cảnh giới riêng và
luôn luôn bị đói khát. Chúng sống ở nhiều nơi khác nhau, nhà dân, rừng núi,
hang động hay các chỗ nhớp nhúa.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Từ Pettivisaya trong tiếng Pali được định nghĩa như sau:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Petā có nghĩa là cách ly sự an lạc, xuất nguồn từ câu: Sukhasamussayato
Pākaṭṭho entīti.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Petti là Hội chúng của Ngạ quỷ xuất nguồn từ câu: Petānaṃ samūho. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Pettivisayo là chỗ ở, chỗ sanh của Ngạ quỷ xuất nguồn từ câu: Pettiyā visayo. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngạ quỷ cũng có nhiều loại, Ngạ quỷ nhỏ, Ngạ quỷ lớn, Ngạ quỷ biến hóa thành
hình ảnh đẹp hoặc hình ành xấu. Về hình đẹp thì cho thấy dạng, nam, nữ, đạo sĩ,
Sa di, Tỳ khưu. Còn&nbsp; xấu thì cho thấy là trâu, bò, voi, chó với hình dạng
kinh khiếp&nbsp; như có đầu to, mắt lồi và có khi không hiện rõ...&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong các loài Ngạ quỷ cũng có những loại phải chịu đói khát khổ sở,&nbsp; ăn
những cặn bả được quăng bỏ ở những nơi dơ bẩn hay ăn đàm, mũ, nước miếng và
phẩn ...&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Phẩm Lokapaññatti có ghi rằng: <i>"
Yattha petanagare petamahiddhiko sabbapetānaṃ issariyādhipaccankaroti".</i>&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Rừng Vijjhātīavī là kinh thành của loài Ngạ quỷ, và Ngạ quỷ Mahiddhika là vị
chúa tể cai trị tất cả các Ngạ quỷ khác. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Đây là 12 loại Ngạ quỷ&nbsp; được điển hình trong phẩm Lokapaññatti và
Gacchatidīpanī:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">1- Vantāsapetā hay Vantāsa: Ngạ quỷ ăn nước miếng, đàm, vật nôn mữa. Nguyên
nghĩa Pali : Vantaṃ asati bhakkhatīti = Vantāso. 
    <br />2- KuṇApāsapetā hay Kuṇapāsa: Ngạ quỷ ăn tử thi người hoặc thú. Nguyên nghĩa
Pali: Kunapaṃ arati dakkhatīti = Kuṇapāso. 
    <br />3- Gūthakhādakapetā hay Gūthakhādaka: Ngạ quỷ ăn phẩn. Nguyên nghĩa Pali:
Gūthaṃ khādatīti = Gūthakhadako. 
    <br />4- Aggijālamukhapetā hay Aggijālamukha: Ngạ quỷ thường có lửa trong miệng.
Nguyên nghĩa Pali : Aggijālamukhatā etassāti = Aggījālamukho. 
    <br />5- Sucimukhapetā hay Sūcimukha: Ngạ quỷ có miệng bằng lổ kim. Nguyên nghĩa Pali
: Sūcipamānaṃ sukhaṃ etassāti = Sūcimukho. 
    <br />6- Taṇhaṭṭikapetā hay Taṇhāhaṭṭita: Ngạ quỷ thường bị ái bức hại cho đói khát.
Nguyên nghĩa Pali : Taṇhāya aṭṭhito pūḷitoti = Taṇhāhaṭṭito. 
    <br />7- Sunijjhāmakapetā hay Sunijjhāmaka : Ngạ quỷ có thân đen như than. Nguyên
nghĩa Pali: Suṭṭhu nissesena jhāno= Sunijjhāmo, Sunijjhāmo viyāti=
Sunijjhāmako. Cây bị lửa đốt hết cành, lá, thân, chỉ còn lại gốc cây bị cháy gọi
là Sunijjhāmaka. 
    <br />8- Suttaṅgapetā hay Suttaṅga: Ngạ quỷ có móng tay nhỏ, móng chân dài và bén
nhọn như dao. Nguyên nghĩa Pali : Sattasadisaṃ aṅgaṃ etassāti = Suttaṅgo. 
    <br />9- Pabbataṅgapetā hay Pabbataṅgo: Ngạ quỷ có thân cao lớn bằng quả núi. Nguyên
nghĩa Pali: Pabbatappamaṇo aṅgo etassāti = Pabbataṅgo. 
    <br />10- Ajagaraṅgapetā hay Ajagaraṅga: Ngạ quỷ có thân giống như con trăn. Nguyên
nghĩa Pali: Ajagarasadiso aṅgo etassāti = Ajararaṅgo. 
    <br />11- Vemānikapetā hay Vemānika: Ngạ quỷ bị cảm thọ khổ lúc ban ngày, nhưng ban
đêm được thọ hưởng lạc trong Thiên cung. Nguyên nghĩa Pali : Vimāne nibbattoti
= Vemāniko. 
    <br />12- Mahiddhikapetā hay Mahiddhika: Ngạ quỷ có Đại thần lực. Nguyên nghĩa Pali :
Mahatiyā iddhiyā samannāgatoti = Mahiddhiko. 
    <br />Petavatthu và Aṭṭhakathā, ṭīkā cũng có ghi bốn loại Ngạ quỷ thường được kể
trong chủ đề của họ như là: 
    <br />1- Parehidattaṃ upanissāya jīvatīti = paradattupajīviko.&nbsp; Vì sống phải dựa
vào người khác nuôi, nên người ta đặt tên nó là Ngạ quỷ Paradattupajīvika. 
    <br />2- Khudā ca pīpāsā ca = Khuppipāsā (Đói và khát). KhuppiPāsāhi pilito =
KhuppiPāsiko(sự đói khát). Khuppipāsika&nbsp; là Ngạ quỷ đói và khát. 
    <br />3- Nijjhāmena taṅhā etassāti = Nijjhāmataṇhiko.&nbsp; Vì có&nbsp; sự thèm ái dục
hay sự đói khát thường xuyên và liên hệ từ lửa cháy trong miệng cho nên Ngạ quỷ
này được gọi là Nijjhāmataṇhika. 
    <br />4- Ngạ quỷ Kaḷakañcika này khỏi phải định nghĩa, vì là tên của Atula, như trong
Pātheyyavagga aṭṭhakathā có ghi rằng: <i>"Kālakañcikāti
tesaṃ asurānaṃ nāmaṃ"</i>. Gọi là Kālakañcika này là tên của Atula thuộc loài
Ngạ quỷ.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Vài loài Ngạ quỷ mà Bồ-tát không sanh vào là:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">1- Ngạ quỷ KhuppiPāsika 
    <br />2- Ngạ quỷ Nijjhāmataṇhika 
    <br />3- Ngạ quỷ Kālakañcika 
    <br />Ngoài các loại Ngạ quỷ đã kể trên, còn có nhiều loại khác, như Ngạ quỷ&nbsp;
Suciloma là loại Ngạ quỷ có lông như kim, Ngạ quỷ Kharaloma là Ngạ quỷ có lông
thô, Ngạ quỷ Ghanakha là Ngạ quỷ có móng tay và móng chân dài.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Theo&nbsp; Lakkhaṇasamyutta có 21 loại Ngạ quỷ được trình bày như sau:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">1. Aṭṭhisaṅkhasikapetā: Ngạ quỷ có xương dính với nhau thành từng khúc, nhưng
không có thịt. 
    <br />2. Maṃsapesikapetā: Ngạ quỷ có thịt thành từng mãnh, nhưng không có xương. 
    <br />3. Maṃsapiṇḍapetā: Ngạ quỷ có thịt thành từng cục, thành khối. 
    <br />4. Nicchaviparisapetā: Ngạ quỉ không có da. 
    <br />5. Asilomapetā: Ngạ quỷ có lông như gươm. 
    <br />6. Sattilomapetā: Ngạ quỷ có lông như giáo. 
    <br />7. Usulomapetā: Ngạ quỷ có lông như cây tên. 
    <br />8. Sūcilomapetā: Ngạ quỷ có lông như kim. 
    <br />9. Dutiyasūcilomapetā: Ngạ quỷ có lông như kim, loại thứ hai. 
    <br />10. Kumbhaṇḍapetā: Ngạ quỷ có hòn dái rất to. 
    <br />11. Gūthakūpanimuggapetā: Ngạ quỷ chìm ngập trong phẩn. 
    <br />12. Gūthakhādakapetā: Ngạ quỷ ăn phẩn. 
    <br />13. Nicchavitakipetā: Ngạ quỷ cái không có da. 
    <br />14. Duggandhapetā: Ngạ quỷ có mùi hôi thối. 
    <br />15. Ogilinīpetā: Ngạ quỷ có thân như cây đuốc, lửa. 
    <br />16. Asisapetā: Ngạ quỷ không có đầu. 
    <br />17. Bhikkhupetā: Ngạ quỷ có hình tướng giống Tỳ khưu. 
    <br />18. Bhikkhunīpetā: Ngạ quỷ có hình tướng giống Tỳ khưu ni. 
    <br />19. Sikkhāmānapetā: Ngạ quỷ có hình tướng giống học nữ. 
    <br />20. Sāmaṇerapetā: Ngạ quỷ có hình tướng giống Sa di. 
    <br />21. Sāmaṇerīpetā: Ngạ quỷ có hình tướng giống Sa di ni.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nhận thấy sự khổ đau cùng tột của loài ngạ quỷ mang hình thù quái vị, bởi do
nghiệp chướng, tham lam bòn sẻn đời trước mà chiêu cảm quả báo đời này. Ðức
Phật với tâm từ bi vô tận đã thuyết ra nhiều pháp môn phương tiện để cứu độ.
Một trong các pháp môn phương tiện để cứu độ loài ngạ quỷ đó là pháp chẩn tế cô
hồn.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong pháp nghi này, Ðức Phật đã thuyết ra rất nhiều chơn ngôn thần chú, như
Phổ triệu thỉnh chơn ngôn, Tịnh nghiệp chướng chơn ngôn, Phá địa ngục chơn
ngôn, Khai yết hầu chơn ngôn, Biến thực chơn ngôn, Biến thủy chơn ngôn...để chỉ
cho họ thấy được đâu là nẻo chánh đường tà, khiến họ dứt trừ được tâm tham lam
bỏn sẻn, hồi tâm hướng thiện một lòng tu hành, được vĩnh viễn thoát hẳn các sự
khổ não của cảnh giới ngạ quỷ.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ðấy chính là tác dụng và mục đích của pháp chẩn tế cô hồn, mà trong các chùa,
sau khi kết thúc bất kỳ một pháp sự nào, đều có tổ chức nghi thức cúng cô hồn
này.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngày đại lễ Vu Lan có phần cúng Mông Sơn Thí Thực, người hay đi chùa chỉ nghe
nói cúng Mông Sơn, mà ít nghe nói cúng thí. Vậy Mông Sơn Thí Thực, bốn chữ này
phải có ý nghĩa gì đặc biệt mà người ta phải dùng ?. Qua hai truyền thuyết ghi
laị trong 2 bộ kinh khác nhau : 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Kinh Vu Lan (phạn ngữ gọi là&nbsp; Ullambana có gốc từ động từ căn là&nbsp; ud-√lamb,
có nghĩa&nbsp; treo ngược lên, và các dịch giả Trung Quốc dùng từ đảo huyền
treo ngược lên&nbsp; cho từ Vu lan, chỉ sự khổ đau kinh khủng khi sa đọa địa
ngục).&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lễ Vu Lan xuất phát từ truyền thuyết về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu, nghe
theo lời dạy của Ðức Phật, đã lập trai đàn cầu nguyện&nbsp; vào ngày rằm tháng
7&nbsp; để cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ, và ngày này đã trở thành ngày
lễ hằng năm để tỏ hiếu với cha mẹ, ông bà và cũng để giúp đỡ những linh hồn đói
khát trong một số nước Á Đông.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ở Nhật&nbsp; ngày lễ này được tổ chức vào ngày 7 tháng 7 để tỏ những ước nguyện
của mình, người ta thường viết ước nguyện rồi treo vào cây trúc với mong ước
điều ước đó sẽ trở thành hiện thực. Phương thức cúng dường để cầu siêu&nbsp;
gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng mang&nbsp; tên là Vu Lan bồn hội, và bộ kinh là
Vu Lan bồn.&nbsp; Kinh này do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào thời Tây Tấn
(265-316).&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lễ cúng cô hồn bắt nguồn từ kinh Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni
Kinh, dựa theo câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một
con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên).&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Cuốn Phật thuyết cứu diện nhiên ngạ quỷ đà la ni thần chú kinh do ngài
Śikṣānanda, đời Đường, dịch vào năm 695-700, cùng với ba tác phẩm khác của Mật
tông do ngài Bất Không Kim Cương dịch, đó là Phật thuyết cứu diệm khẩu đà la ni
kinh. Du già tập yếu cứu a nan đà la ni diệm khẩu quỷ nghi kinh, và Du già tập
diệm khẩu thí thực khởi giáo a nan đà duyên do.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Dựa vào những tác phẩm Mật tông này mà ngài Bất Không Kim Cương được xem là tổ
thứ ba của Mật tông Trung Hoa và cũng là tác giả đã soạn ra nghi thức cho lễ
Thí ngạ quỷ.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Người Phật tử Trung Hoa gọi lễ này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và
cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, và nghi thức này dần dần trở thành thói
quen trong các nước á Châu, với tên là lễ cúng cô hồn.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Vậy lễ Vu Lan có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không? Không!. Ðây là hai lễ
cúng khác nhau&nbsp; nhưng được cử hành trong cùng một ngày.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nghi thức cầu siêu cho cô hồn có thể phát xuất từ đời nhà Đường bên Trung Quốc
do ngài Huyền Trang, lập đàn siêu độ cho tứ sanh đang luân hồi trong lục đạo.
Đến đời Tống, đại sư Bất Không Kim Cương ở Mông Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, quán biết
các cô hồn đang vất vưởng, đòi hỏi những nhu cầu cần thiết, nên Ngài đã ghi ra
nghi thức lễ để cung ứng và siêu độ cho họ và từ đó mới có nghi thức Mông Sơn
Thí Thực. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Mông Sơn là một tỉnh tại phía tây miền trung Trung Quốc. Thủ phủ là Thành Đô.
Vùng này nằm trong Lòng chảo Tứ Xuyên và có dãy núi Himalayas bao quanh về phía
tây, về phía bắc&nbsp; có dãy núi Tần Lĩnh, về hướng nam&nbsp; có các vùng núi
đồi của Vân Nam. Sông Dương Tử chảy qua lòng chảo và cũng là thượng nguồn đối
với các vùng phía đông của Trung Hoa. Sông Mân Giang ở trung tâm Tứ Xuyên là
một nhánh của thượng nguồn Sông Dương Tử mà nó nhập vào tại Nghi Tân. Du lịch
có khu ngoạn cảnh Núi Nga Mi, Nhạc Sơn Đại Phật (tượng Phật to ở Nhạc Sơn)...&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">THÍ là việc làm đứng đầu lục độ vạn hạnh có 3 cách để làm : Tài thí cũng gọi là
tư sanh thí, pháp thí và vô úy thí.&nbsp; THỰC : là Thức ăn trong tiếng Trung
Hoa.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thí thực là bố thí thức ăn và ý nghĩa ăn của Phật Giáo như sau:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">1) Ðoạn thực: thức ăn cứng, có thể chia thành phần như cơm, cháo, rau, canh,
thịt, cá v.v. &amp; các thức vật có hương vị làm xúc cảm tâm thức. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">2) Xúc thực: Ăn với thức quan hay biết mùi vị, tức là cách ăn của Quỷ, Thần thọ
hưỡng hương vị mà thôi.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">3) Tư thực: ăn với sự kiện thần giao tư tưởng, là phép ăn của bậc Thiên trên
cỏi sắc giới, ăn với phương thức thuyền duyệt tức là không chủ về vật phẩm ăn
mà chỉ thọ hưỡng hơi hương, luôn luôn xem việc ăn là đạo vị, thanh tịnh.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">4) Thức thực: ăn qua sự giao cảm của thức thứ 8, phép ăn nầy bậc Thánh, Phàm có
khác nhau, bậc Thánh hưỡng thụ một cách hồn nhiên không phân biệt, còn bậc phàm
phân biệt là ngon, dở; do chỗ phân biệt mà có tham muốn rồi khởi lên tư tưởng
tham ăn đến bị vào vòng sinh tử, luân hồi.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nghi thức thí thực này thường được tổ chức vào mùa Vu Lan Báo Hiếu, vào dịp đại
lễ khánh thành chùa hoặc 49 ngày cho người vừa qua đời hay ngày cúng cơm, để
hồi hướng công đức siêu độ cho vong linh. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong truyền thống Phật Giáo Đại Thừa Việt Nam, việc cúng Cô hồn hay Đàn tràng
Chẩn tế là một pháp thức để cầu siêu cho các vong linh của những người đã chết
mà vì oan nghiệp chưa siêu thoát. Nghi thức này được gọi là Thập loại Chúng
sinh, như Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du hay Thập loại Cô hồn.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thập loại cô hồn được phân loại như sau :&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">1. Thủ hộ quốc giới: Loại oan hồn vị quốc vong thân; 
    <br />2. Phụ tài khiếm mạng: Loại oan hồn chết vì trái chủ oan gia, trụy thai, sẩy
thai; 
    <br />3. Khinh bạc Tam Bảo: Loại oan hồn vì tạo nghiệp bất hiếu, phụ nghịch, vô đạo; 
    <br />4. Giang hà thủy nịch: Loại oan hồn chết sông, chết biển; 
    <br />5. Biên địa tà kiến: Loại oan hồn ở nơi biên ải hẻo lánh xa xăm; 
    <br />6. Ly hương khách địa: Loại oan hồn phiêu bạc tha hương, chết đường, chết bụi; 
    <br />7. Phó hỏa đầu nhai: Loại oan hồn chết vì tự tử, trầm mình xuống sông, núi,
chết đâm, chết chém; 
    <br />8. Ngục tù trí mạng: Loại oan hồn chết vì bị tra tấn, khổ nhục trong lao tù; 
    <br />9. Nô tì kết sử: Loại oan hồn chết vì bị nô lệ, hành hạ, đày đọa; 
    <br />10. Manh mung ám á: Loại oan hồn lúc sống bị đui, què, câm, điếc, cô quả không
ai chăm sóc.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Đàn tràng chẩn tế,Trai đàn hay làm chay và chạy kinh đàn, là một nơi tổ chức
các nghi lễ của Mật Giáo, dùng sự trang nghiêm thanh tịnh làm gốc để nhất tâm
hồi hướng cho các loại cô hồn hay vong linh vì oan nghiệp chưa siêu thoát đang
còn sống trong thế giới mong lung. Một trai đàn cúng thí thường kéo dài từ 3
tiếng đến 7 tiếng đồng hồ.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Đàn tràng phạn ngữ viết là&nbsp; </span><span style="font-size: 14pt;">मण्डल</span><span style="font-size: 14pt;">, đươc phiên âm
Anh hóa là mandala có nghĩa là vòng tròn hay sự tròn vẹn. Từ mandala là danh từ
ghép từ 2 chữ " Manda, nghĩa là cốt lõi" và tiếp vĩ ngữ " la có
nghĩa hàm chứa thêm vào đó". Nghĩa chung của Mandala&nbsp; là một
"vật chứa sự cốt lõi".&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thuật ngữ này thường được dùng để chỉ các đồ hình có mang đặc tính tượng trưng
thể hiện một dạng thức hình học của vũ trụ hay của tiểu bản thể con người. Khởi
gốc, các đồ hình Mandala có thể đã phát nguồn từ đạo Bà la môn. Theo Nitin
Kumar 2, thì Mandala&nbsp; có thể xuất hiện sớm nhất ở Ấn hay Ấn Âu và liên hệ
đến học thuật Rig Veda.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Mandala là một chương, một tập hợp của các bài chú hay bài thánh kệ được tụng
lên trong các buổi lễ Vệ đà, qua đó các âm thanh thiêng liêng được chuyển tải
trong các dạng thức di truyền của các chúng sinh và sự vật.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Cúng thí thực cô hồn là một nghi thức cứu độ cho các oan hồn uổng tử, không nơi
nương tựa đã có tự ngàn xưa. Phát xuất từ hồi Phật còn tại thế.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Một mâm lễ nhỏ, một nồi cháo trắng gọi là cúng cháo. Tại sao phải cúng cháo ?&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tại chùa, cúng thí thực hay cúng Mông sơn thí thực là một phần hành trì thiết
yếu hằng ngày sau công phu chiều. Một mâm lễ nhỏ, một nồi cháo trắng gọi là
cúng cháo. Tại sao phải cúng cháo ? Vì theo truyến thuyết các quỷ đói với thân
hình xấu xí, cái bụng bằng cái trống nhưng cần cổ chỉ nhỏ bằng cây kim, không
thể ăn uống gì được, chỉ húp được nước cháo mà thôi.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nghi thức cúng cháo bắt đầu từ lúc Đức Phật còn tại thế, trong Kinh " Phật
Thuyết Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh" có ghi rằng :&nbsp; Tôn giả A
Nan, thị giả của Phật, đang thiền tọa trong đêm khuya vắng, khoảng canh ba chợt
thấy một con quỷ đói với một thân xác tiều tụy khô gầy xấu xí, mặt cháy xám
(diện nhiên), cần cổ nhỏ bằng kim, miệng phun ra lửa (diệm khẩu), bước vào cảnh
báo rằng ba ngày sau ngài A Nan sẽ chết và sẽ đọa vào loài quỷ đói. Tôn giả A
Nan nghe sợ quá, nên hỏi con quỷ làm cách nào để thoát khỏi khổ nạn. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Quỷ bảo rằng " Rạng sáng ngày mai, ông dùng các thức uống ăn đem bố thí
cho loài quỷ đói và phát tâm cúng dường Tam Bảo hồi hướng công đức để giúp
chúng tôi sớm thoát khổ địa ngục và ngạ quỷ, thì ông mới thêm tuổi thọ ".&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngài A Nan quá kinh hãi nên bạch Phật cứu giúp. Phật dạy : " Ông chớ có
quá lo sợ, ta nhớ lại trong quá khứ vô lượng kiếp, thuở đó ta làm người dòng Bà
la môn, đối trước Bồ Tát Quán Thế Âm, ta thọ được pháp đà la ni (biến thực chân
ngôn) của Phật vô lượng uy đức Tự Tại Quang Minh Như Lai : ta nay truyền dạy
lại ngươi, nếu trì tụng thần chú đây, niệm được bảy biến có thể khiến cho một
món ăn hoá ra làm vô lượng món ăn và trở thành mùi vị cam lộ ngon ngọt, khiến
cho các loài được thọ hưởng no đủ ".&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tiếp đó Đức Thế Tôn đã dạy rõ phương pháp cứu độ ngạ quỹ qua bản Kinh "
Phật Thuyết Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni ".&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nghi thức cúng cháo sau này đã được chư tổ đức Trung Hoa soạn thảo thành "
Du Già Diệm Khẩu Thí Thực khoa nghi ". 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Theo truyền thuyết tín ngưỡng cổ truyền Á châu, người ta tin rằng con người có
hai phần: hồn và xác. Khi chết, hồn lìa khỏi xác, xác bị phân hủy còn hồn sẽ
tiếp tục tồn tại. Hồn có thể lên thiên đàng hay đầu thai kiếp khác, hoặc&nbsp;
bị giáng xuống địa ngục tùy theo những điều lành hay dữ mà người đó làm khi còn
sống.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Vậy thì Hồn là gì ? Thiên đàng và Địa ngục ở đâu ?&nbsp; Trong bài mở đầu Thập
giới cô hồn Quốc ngữ văn của Lê Thánh Tôn, có nói Hồn là phần tinh anh, cái
phần thần thánh có ở bản thể con người và nó là thứ " khinh quang "
nên " thăng thượng " lên cõi chiêu dương (sáng rực).&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Phần tinh anh là phần thứ ba trong ba thể loại của hồn: Sinh hồn, giác hồn và
linh hồn. Theo kinh Địa Tạng : " Từ khi chết, trong 7 tuần đầu, thần thức
chưa có định sở đang còn vơ vẩn khắp nơi. Nếu tang gia vì người quá vãng chí
thành cầu nguyện, Phật sẽ tiếp độ ". Đây là tín lý của nghi cúng thất 7
tuần đầu để cầu cho vong hồn hay thần thức còn gọi là Trung ấm hay Thức thân,
được vãng sanh cõi Cực lạc Tịnh độ Niết bàn vô vi.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trên mặt lý của truyền thuyết trong kho tàng văn hóa dân gian có nói : dưới âm
phủ có mười vị vua cai quản&nbsp; mười cửa ngục, mỗi vị có nhiệm vụ và công
việc khác nhau để xem xét người chết lúc còn sống trên thế gian đã phạm vào
những tội lỗi gì mà có hình phạt tương ứng. Thời gian tạm giam ở đây không phải
là sự giam cầm vĩnh viễn mà theo sự phán xét dài ngắn tùy trường hợp.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Địa ngục phạn ngữ gọi là Naraka </span><span style="font-size: 14pt;">नरक</span><span style="font-size: 14pt;"> và Pāli là Niraya</span><span style="font-size: 14pt;">निरय</span><span style="font-size: 14pt;">. Theo nghĩa đen chữ địa ngục có nghĩa là ngục ở dưới
đất. Vì chữ địa là đất và chữ ngục là giam giữ. Còn nghĩa bóng là ý muốn nói
những người nào làm ác thì chịu quả báo. Có thể là ở trước mắt, chứ không nhất
thiết là sau khi chết đi mới đọa vào địa ngục.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tóm lại Địa ngục có nhiều truyền thuyết diễn nghĩa và cũng tùy theo những khái
niệm riêng của mỗi tôn giáo.&nbsp; Trong lãnh vực Văn học dân gian, Địa ngục
được xem như một địa danh siêu nhiên, nơi của các linh hồn đến sau khi chết.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Phần lớn các tôn giáo đều cho rằng địa ngục là nơi giam giữ, trừng phạt các
linh hồn tội lỗi, và đây cũng là nơi để cho các linh hồn được ăn năn sám hối,
trước khi đi đầu thai. Phản nghĩa của Địa ngục là Thiên đàng.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Có nhiều người không tin có địa ngục. Bởi vì họ cho rằng Thấy rồi họ mới tin.
Nhưng dù có dùng lý luận khoa học hay phương tiện nào đó đễ chứng minh, thì rất
khó để làm họ tin được.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thí dụ trong đời sống hàng ngày chúng ta, ai ai cũng biết, vạn vật sống trên
trái đất này đều phải nhờ không khí, nhưng không khí ở dạng vô hình làm sao
thấy được, do đó chúng ta vẫn phải tin rằng nếu không có không khí thì chúng ta
sẽ chết, đó là chuyện thực tế không ai chối cãi được.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thêm một thí dụ thực tế khác nữa : Trong đời chúng ta thường nghe nói về nguồn
gốc tổ tiên của chúng ta, mặc dù không thấy mặt được họ, nhưng chúng ta vẫn
phải tin rằng, bằng một lý lẽ đơn giản: Nếu không có ông bà tổ tiên, thì làm
sao ngày nay chúng ta được sống hiện diện tại đây.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Những chuyện đơn giản trước mắt có thể hiểu và tìm hiểu được bằng thực chất so
sánh mà còn nghi ngờ thì những việc khác không dùng mắt để thấy được thì làm
sao mà có thể tin. Cũng như : người ta không thấy được ánh sáng là tại vì người
ta mù, chứ không phải người mù mà không biết ánh sáng.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Người con Phật tin Phật là qua trí tuệ chứng đắc của Ngài, bởi vì Ngài đã thấy
rõ mọi sự việc trên thế gian và đã kể lại cho những đồ đệ của Ngài nghe những
việc như thế để viết thành kinh để răn dạy người đời. Còn tin hay không, là
chuyện cá nhân của mỗi người. Đạo Phật hay Đức Phật không kêu gọi và cũng chẳng
bắt ai phải tin theo.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Giáo lý của Đức Phật như ngọn đèn soi sáng trong cuộc sống thực tế, vậy thì thực
tế trong cuộc sống là gì? Tất cả mọi sinh hoạt thực tế trong cuộc sống đều phải
bị chi phối bởi nghiệp lực, vô thường, khổ, không, và vô ngã.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Có một điều chắc chắn: không có hôm qua thì không có hôm nay và ngày mai sẽ
không có. Nhân và quả tạo thành cái giải luân hồi vô tận và chúng ta nên nghĩ
rằng : Nhân tốt sẽ không bao giờ sanh trái đắng.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">&nbsp;Đức Phật có nói : Chúng sanh bị đọa vào địa ngục vì đã tạo nhiều nghiệp
ác, tà kiến. Chúng ta nhờ tạo dựng nghiệp nhân làm người, sống giữa cõi người,
còn những chúng sanh nào tạo nghiệp nhân địa ngục thì sống trong địa ngục
v.v... Đây là một sự thật của nhân quả, nghiệp báo, vì thế địa ngục là một cảnh
giới, một cõi sống cụ thể, không phải là ẩn dụ hay biểu tượng.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngày nay, địa ngục không phải chỉ xuất hiện ở một thế giới xa lạ và bí mật nào,
như chúng ta đã tham khảo sơ qua trong những đoạn kinh ở trên hay trong kho
tàng văn học dân gian, mà địa ngục hiện hữu luôn nằm ngay trong cuộc đời hiện
hữu của chúng ta.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Bởi vì ở đâu có đau khổ, có máu và nước mắt là ở đấy có địa ngục. Thế giới hiện
đang chiêu cảm nhiều thiên tai chết chốc, giết chốc tàn khốc bởi chiến tranh
đang diển ra khắp nơi. Mỗi ngày hàng vạn con vật bị lên lò sát sanh, hàng ngàn
người bị tra tấn trong mọi lao tù. Đây mới chính là hình ảnh thực tế của một
địa ngục hiện hữu trần gian một cách trọn vẹn.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Căn bản ngục, Cận biên ngục, Cô độc ngục, mỗi ngày không còn dựng lên một nơi
mà đã tràn lan khắp nơi trong cuộc sống, không do sự xúi giục của Ngạ Quỷ, đầu
trâu mặt ngựa, mà do tự bàn tay tàn bạo của chính con người tự tạo ra, để rồi
con người phải tự chính mình tự chôn vào đó, cũng chỉ vì Nhân loại tranh chấp
nhau vì những lợi quyền kinh tế, chánh trị và tranh chấp nhau vì tư tưởng.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Những tâm niệm xấu xa, ích kỷ, kiêu mạn, tham lam và tàn bạo, là một địa ngục
sâu thẳm trong mỗi tâm hồn nhân loại và cũng là nguồn gốc tạo ra các loại địa
ngục khác trên thế gian.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Khi ngọn lửa tâm tưởng xấu xa, ích kỷ, kiêu mạn, tham lam và tàn bạo còn bừng
cháy trong mỗi cá nhân, thì ngọn lửa khổ đau của toàn thể nhân loại không thể
nào dập tắt được nữa. Thế giới ngoại cảnh biến hiện tùy thuộc vào tâm thức của
mỗi người. Khi đôi mắt đã nhuộm màu đỏ của sự tàn ác, thì cảnh vật bên ngoài
làm gì không ngập đầy máu đau thương !.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Muốn cứu độ nhân loại đang thoi thóp trong đau khổ và hận thù trong các địa
ngục, thì mỗi cá nhân phải tự cứu mình trước đã. Đây chính là cuộc cách mạng vĩ
đại nhất rất khó làm.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tất cả địa ngục không còn giá trị, khi trong lòng mỗi người không còn những
ngọn lửa tâm tưởng xấu xa, ích kỷ, kiêu mạn, tham lam và tàn bạo. <span>&nbsp;</span></span></p>
		</div>
				<div id="author">
						<p>
				<strong>Nguồn tin:</strong>
				TS Huệ Dân
			</p>
		</div>
	</div>
	<div id="footer" class="clearfix">
		<div id="url">
			<strong>URL của bản tin này: </strong><a href="https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/Ma-va-Nga-Quy-4697.html" title="Ma và Ngạ Quỷ">https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/Ma-va-Nga-Quy-4697.html</a>

		</div>
		<div class="clear"></div>
		<div class="copyright">
			&copy; Chùa Thành Lạng Sơn
		</div>
		<div id="contact">
			<a href="mailto:trananhls.1984@gmail.com">trananhls.1984@gmail.com</a>
		</div>
	</div>
</div>
        <div id="timeoutsess" class="chromeframe">
            Bạn đã không sử dụng Site, <a onclick="timeoutsesscancel();" href="https://chuathanhlangson.com/#">Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập</a>. Thời gian chờ: <span id="secField"> 60 </span> giây
        </div>
        <div id="openidResult" class="nv-alert" style="display:none"></div>
        <div id="openidBt" data-result="" data-redirect=""></div>
<script src="https://chuathanhlangson.com/assets/js/jquery/jquery.min.js"></script>
<script>var nv_base_siteurl="/",nv_lang_data="vi",nv_lang_interface="vi",nv_name_variable="nv",nv_fc_variable="op",nv_lang_variable="language",nv_module_name="news",nv_func_name="savefile",nv_is_user=0, nv_my_ofs=0,nv_my_abbr="GMT",nv_cookie_prefix="nv4",nv_check_pass_mstime=1738000,nv_area_admin=0,nv_safemode=0,theme_responsive=0,nv_is_recaptcha=1,nv_recaptcha_sitekey="6LfAUHYUAAAAAGgoZZaLvBT8i740FIBrHubaqU07",nv_recaptcha_type="image",nv_recaptcha_elements=[];</script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/assets/js/language/vi.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/assets/js/global.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/news.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/main.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/bootstrap.min.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/fix_banners.js"></script>
</body>
</html>