<!DOCTYPE html>
	<html lang="vi" xmlns="http://www.w3.org/1999/xhtml" prefix="og: http://ogp.me/ns#">
	<head>
<title>Tập Nghiệp </title>
<meta name="description" content="Tập Nghiệp - Savefile - Tin Tức - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;chuathanhlangson.com&#x002F;savefile&#x002F;phat-hoc-pho-thong&#x002F;Tap-Nghiep-3919.html">
<meta name="author" content="Chùa Thành Lạng Sơn">
<meta name="copyright" content="Chùa Thành Lạng Sơn [trananhls.1984@gmail.com]">
<meta name="robots" content="index, archive, follow, noodp">
<meta name="googlebot" content="index,archive,follow,noodp">
<meta name="msnbot" content="all,index,follow">
<meta name="generator" content="NukeViet v4.0">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<meta property="og:title" content="Tập Nghiệp ">
<meta property="og:type" content="website">
<meta property="og:description" content="Savefile - Tin Tức - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;chuathanhlangson.com&#x002F;savefile&#x002F;phat-hoc-pho-thong&#x002F;Tap-Nghiep-3919.html">
<meta property="og:site_name" content="Chùa Thành Lạng Sơn">
<meta property="og:url" content="https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/Tap-Nghiep-3919.html">
<link rel="shortcut icon" href="https://chuathanhlangson.com/uploads/lotus.png">
<link rel="canonical" href="https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/Tap-Nghiep-3919.html">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/" title="Tin Tức" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/tin-tuc/" title="Tin Tức - Tin tức thời sự" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/phat-hoc-pho-thong/" title="Tin Tức - Giáo lý Phật pháp" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Chuyen-Dao-Doi/" title="Tin Tức - Chuyện Đạo & Đời" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/phat-giao-tuoi-tre/" title="Tin Tức - Tuổi trẻ tươi sáng" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/nep-song/" title="Tin Tức - Triết lý nhân sinh" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Suc-Khoe/" title="Tin Tức - Sức Khỏe - Y Học" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Vu-Lan-33/" title="Tin Tức - Công trình xây dựng chùa Tân Thanh" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Xu-Lang-Que-Toi/" title="Tin Tức - Xứ Lạng Quê Tôi" type="application/rss+xml">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/assets/js/jquery/jquery.min.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/assets/js/language/vi.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/assets/js/global.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/news.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/main.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/bootstrap.min.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/fix_banners.js">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/assets/css/font-awesome.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/css/bootstrap.non-responsive.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/css/style.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/css/style.non-responsive.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/css/news.css">
<link href="https://fonts.googleapis.com/css?family=Dancing+Script" rel="stylesheet">
<style>
	body{background: #fff;}
</style>
	</head>
	<body>
<div id="print">
	<div id="hd_print">
		<h2 class="pull-left">Chùa Thành Lạng Sơn</h2>
		<p class="pull-right"><a title="Chùa Thành Lạng Sơn" href="https://chuathanhlangson.com/">https://chuathanhlangson.com</a></p>
	</div>
	<div class="clear"></div>
	<hr />
	<div id="content">
		<h1>Tập Nghiệp </h1>
		<ul class="list-inline">
			<li>Thứ ba - 15/03/2011 07:47</li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-print">&nbsp;</em><a title="In ra" href="javascript:;" onclick="window.print()">In ra</a></li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-power-off">&nbsp;</em><a title="Đóng cửa sổ này" href="javascript:;" onclick="window.close()">Đóng cửa sổ này</a></li>
		</ul>
		<div class="clear"></div>
		<div id="hometext">
			Trọng tâm bài này tôi nói về nghiệp tập. Nghiệp tập là nói theo chữ Hán, chữ Việt gọi là tập nghiệp, do huân tập trở thành nghiệp. Thiền sư thứ ba ở Trung Quốc là Tổ Tăng Xán. Lúc bị bệnh cùi, mọi người khinh chê xa lánh nên Ngài rất buồn tủi. Nghe Tổ Huệ Khả truyền bá Phật pháp, Ngài tìm tới. Khi gặp Tổ ngài thưa: “Bạch Hòa thượng, con nghiệp chướng nặng nề nên mang bệnh nan y, xin Hòa thượng dạy con phương pháp sám hối”.
		</div>
		<div id="bodytext" class="clearfix">
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngài nói rất hiền lành,
thật thà. Vì nghe người ta nói do nghiệp chướng sâu dày mới mắc phải bệnh nan
y. Do đó Ngài cầu Tổ dạy phương pháp sám hối cho tiêu tội, hết bệnh. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Bấy giờ tổ Huệ Khả
cũng dùng thuật của tổ Đạt-ma, nhìn thẳng vào mặt Tăng Xán bảo: “Đem tội nghiệp
ra Ta sám cho”. Ngài Tăng Xán quay lại tìm, tìm mãi không thấy tội nghiệp ở đâu
nên thưa: “Bạch Hòa thượng, con tìm tội không được”. Tổ bảo: “Ta đã sám hối cho
ngươi rồi”. Nghe vậy Ngài biết được đường vào. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tổ bảo đem tội
nghiệp ra Ngài sám cho. Ngài Tăng Xán tìm không thấy tội, làm sao đem được, như
vậy Tổ đã sám cho rồi. Biết đường vào là đường đi đâu? Khi Ngài quay lại tìm
tội nghiệp mà Ngài cho là thật thì không thấy tâm dạng nó ở đâu. Do thấy nó
thật mới sanh ra bệnh hoạn, bây giờ tìm lại không thấy nó nữa. Như vậy tội
nghiệp có hay không? Nếu không làm sao mang bệnh? Nếu có thì ở đâu? Đó là một
vấn đề thật nan giải. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nếu chúng ta không
đi sâu, không thấy tường tận, nghe Tổ nói như chuyện bâng quơ. Ngài bảo đem tội
ra Ta sám cho, Tăng Xán thưa tìm tội không được, Tổ bảo “Ta đã sám cho ngươi
rồi”. Sám bằng cách nào? Từ cái quay lại tìm tội nghiệp không thấy bóng dáng nó
ở đâu, nên biết tội nghiệp biến thành không. Tội nghiệp đã không thì hiện tượng
quả báo đang chịu đó có thật không? Cũng không thật. Gốc tội vốn không thì tất
cả tướng tội theo đó diệt hết. Khi ngài Tăng Xán tìm tội không được, nghe Tổ
nói Ta đã sám hối cho ông rồi, liền biết được đường vào. Từ đó bệnh hủi lành
luôn. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chúng ta ai đang
có bệnh trầm kha ráng tìm xem tội nghiệp ở chỗ nào mà sanh bệnh hoạn như vậy.
Tìm không được thì nó sẽ hết, nếu tìm ra nó thế này thế kia thì tội nghiệp chưa
hết.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thế nên trong bài
sám hối được kết thúc bởi bốn câu:</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><strong><span style="font-size: 14pt;">Tội tánh bổn không, do tâm tạo,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><b><span style="font-size: 14pt;">Tâm nhược diệt
thời, tội diệt vong.</span></b></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><b><span style="font-size: 14pt;">Tội vong tâm
diệt, lưỡng câu không,</span></b></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><b><span style="font-size: 14pt;">Thị tắc danh vi
chơn sám hối.</span></b></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tội tánh bổn
không, do tâm tạo. Tội đâu tự có. Do tâm lành, tâm dữ mới tạo thành tội. Tâm
lành dữ không thật thì tội thật không? Tội không thật thì nghiệp báo cũng không
thật luôn. Chúng ta thấy có tội nào không từ tâm tạo ra? Ví dụ mình đi đường,
không thấy lỡ đạp chết con kiến, tội đó không từ tâm tạo nên sám hối được. Còn
tội từ tâm cố ý tạo thì sám hối không được. Phải chuyển tâm tội mới hết.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Phật dạy tội từ
tâm sanh, cũng từ tâm diệt. Nếu chúng ta tưởng mình có tội thật, tưởng tâm mình
thật, tưởng quả báo nghiệp thật. Một chùm ba thứ: tâm thật, tội thật, quả báo
thật nên thọ khổ. Bây giờ quán sát thấy rõ tâm không thật, tội không thật. Từ
tâm không thật, tội không thật, quả báo làm sao có thật? Đi từ gốc ra lần tới
ngọn, biết gốc không thật thì ngọn cũng không thật. Lành được gốc thì ngọn cũng
lành luôn. Nếu gốc bên trong chưa lành, còn nguyên bệnh mà muốn cho ngọn bên
ngoài lành, làm sao lành được, làm sao hết bệnh được? </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tội từ tâm tạo thì
sám hối phải từ tâm mà sám. Muốn sám hối hết tội nên tìm xem tâm thật hay
không? Nếu tâm thật thì tội thật, tội thật thì quả báo mới thật. Bây giờ biết
rõ tâm không thật, tội chướng không thật, thì quả báo cũng không thật. Nên nói
tánh tội vốn không, bởi tội từ tâm sanh, tâm đã không thì tội đâu có. Tội không
thật có, quả báo làm sao thật được. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ở đây chỉ thẳng
chỗ tột cùng, chớ không đi từ tướng bên ngoài. Nói vậy không có nghĩa là bác
nhân quả, mà là đi thẳng vào gốc của tội lỗi. Gốc của tội lỗi từ tâm mà có. Tâm
tạo tội là tâm gì? Tâm sanh diệt, nghĩ thiện nghĩ ác, nghĩ thương nghĩ ghét. Có
thương có ghét nên đối với người mình ghét ta xử xấu, đối với người thương ta
xử tốt. Từ tâm phân biệt thiện ác, tội phước đó mà đưa tới quả báo tạo nghiệp.
Tạo nghiệp rồi lại tiếp tục chịu quả báo. Cứ thế xoay chuyển mãi không cùng.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thế nên muốn hết
tạo nghiệp trước phải hết cái thấy hai bên. Hiện tại chúng ta thấy mấy bên? Ba
bên. Hai đầu và chính giữa nữa. Nhìn ra thấy ba bên chớ không chỉ hai bên thôi.
Chính giữa là mình, bên này là người thương, bên kia là người ghét. Nếu không
còn hai bên, thì chính giữa cũng hết luôn. Như vậy tội ngay đó tiêu hết. Như
chúng ta ngồi thiền không cho nghĩ bậy tức là dừng nghĩ hai bên. Hai bên dừng
được rồi thì cái chân thật mới hiện. Thế nên tìm tội mà biết tội không thật thì
nghiệp cũng không thật. Vì vậy khi ngài Tăng Xán biết đường vào rồi liền hết
bệnh. Trị bệnh như vậy mới trị tận gốc.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tâm nhược diệt
thời, tội diệt vong. Nghĩa là tâm nếu diệt rồi thì tội theo đó cũng mất. Như khi
ta oán giận ai, muốn hại kẻ đó. Muốn hại là gì? Là tâm. Khi muốn hại bằng cách
này, cách nọ mà chưa kịp hại, liền thức tỉnh. Bấy giờ tâm muốn hại không còn
nữa, vậy tội còn không? Tội theo đó cũng không còn. Nên nói tâm diệt thì tội theo
đó diệt. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Vị nào cả ngày
thấy rõ tâm không thật, buông xả hết tất cả nghĩ ghét, nghĩ thương, người đó có
tội không, sống trong chúng có bị rầy rà không? Chắc không. Ngược lại nếu tâm
nghĩ thương, nghĩ ghét ngày càng sâu, trước lún chừng hai phân, dần dần lên năm
bảy phân, rồi sâu một tấc, cuối cùng lún tới tim nên nhổ không ra. Rầy đi, rầy
lại, nhắc tới, nhắc lui mãi mà nhổ cũng không nổi, là tại lún sâu quá. Cho nên
đừng có cột, đừng có trói thêm sâu thì dễ gỡ. Gỡ được tâm đó thì tội hết liền.
Thế nên gốc của sự sám hối là phải biết tâm không thật, tội không thật, việc làm
kia cũng không thật, nên buông bỏ hết thì tội hết.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chừng nào Tội
không, tâm diệt lưỡng câu không, không thấy tội thật, tâm thật, cả hai đều
không, mới là Thị tắc danh vi chơn sám hối, đó chính thật là sám hối. Sám hối
như thế mới chí thành, chí thiết. Còn sám hối của chúng ta chỉ là sám hối ngoài
miệng, văn sao đọc vậy mà trong tâm không gỡ không chừa. Như vậy chừng nào mới
hết tội?</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chúng ta nhìn lại
hành động của Thiền sư Tăng Xán. Khi tìm tội không ra Ngài liền biết nó không
thật, vì vậy Tổ nói “Ta đã sám hối cho ông rồi”. Ngay đó Ngài biết đường vào,
tức là biết tìm tội tánh là không. Tội tánh không nên tâm cũng không, đó là
Ngài sám hối chân thật. Nhờ thấy đạo, bệnh Ngài được lành. Như vậy đường đi từ
Tổ thứ hai sang Tổ thứ ba từ ngữ có khác, nhưng gốc không hai. Vị nào cũng là
chỉ thẳng chỗ cuối cùng đó. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Sau này Tổ Tăng
Xán có làm bài “Tín tâm minh”. Tôi chỉ đọc hai câu đầu, hai câu cuối thôi. Hai
câu đầu là:</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><strong><span style="font-size: 14pt;">Chí đạo vô nan, </span></strong></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><b><span style="font-size: 14pt;">Duy hiềm giản
trạch.</span></b></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">“Chí đạo” là đại
đạo, là chỗ tột của đạo, “vô nan” là không khó. Chỗ tột của đạo không khó. Duy
hiềm giản trạch, nghĩa là chỉ đáng ngại ở chỗ suy gẫm, phân biệt giản trạch. Vì
suy gẫm phân biệt là vọng tưởng. Muốn được chỗ chí đạo phải buông bỏ suy gẫm,
vọng tưởng. Như vậy khó không? Nếu bảo chúng ta đi bộ lên mây xanh, lấy chí đạo
trên đó thì khó thật. Còn đằng này chỉ bảo đừng giản trạch thôi. Thấy là thấy,
nghe là nghe, đừng phụ họa thêm bớt tốt xấu hay dở, thì chí đạo hiện tiền.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chí đạo tức là
chân tâm. Chỗ tột cùng là đó, không có gì hết, đơn giản vô cùng nên nói không
khó. Nhưng khó tại vì mình giản trạch. Chân tâm có sẵn, chỉ vì ta chạy theo
vọng tưởng nên không nhận ra. Bây giờ đừng chạy theo vọng tưởng nữa thì chân
tâm hiện tiền, có mất thiếu chỗ nào đâu. Thế nhưng không hiểu sao chúng ta lại
không chịu bỏ vọng tưởng? Bởi vì con người quen sống điên đảo rồi. Bởi từ điên
đảo nên không thấy được chí đạo. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tu Thiền, tu Tịnh
cốt diệt tâm điên đảo ấy. Niệm Phật tới nhất tâm thì điên đảo đâu còn. Tu Thiền
buông sạch hết, không còn một niệm thì tâm điên đảo đâu còn. Như vậy vô niệm
tức là chí đạo, chớ không gì khác. Vì chúng ta không đi sâu trong đó, không
sống được chỗ đó, nên mất “chí đạo”. Cho nên tu không tìm gì ở đâu xa, mà cứ
trở về gốc chí đạo, chớ không chi hết.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Hai câu kết thúc:</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><strong><span style="font-size: 14pt;">Tín tâm bất nhị,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><b><span style="font-size: 14pt;">Bất nhị Tín tâm.</span></b></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tin được tâm chân
thật của mình thì không còn hai. Còn hai là chưa tin được tâm chân thật của
mình. Mở đầu và kết thúc bài “Tín tâm minh”, rõ ràng Ngài chỉ thẳng tâm chân
thật rồi, nhưng kẹt là tại chúng ta suy gẫm nhiều quá. Chỉ học bốn câu thôi, ta
cũng thấy tường tận những gì các Tổ muốn dạy. Bởi Ngài tìm tâm không được, tìm
tội không có, tâm tội đã hết thì đâu còn hai. Như vậy Ngài tin được chỗ chí
đạo, thấy rõ chí đạo rồi Ngài được Tổ truyền tâm ấn, tất cả bệnh tật cũng lành
hết. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chuyện dễ như trở
bàn tay, không biết tại sao chúng ta tu năm năm mười năm, than thở đủ thứ khó
khăn, trầy trật mãi chưa vươn lên được. Chuyện bảo bỏ cái giả đi sẽ thấy cái
thật liền, cái thật ấy lại sẵn có, mà không chịu bỏ là khôn hay dại? Dại, không
nghi ngờ gì nữa. Vậy mà ai nói dại liền nổi giận đùng đùng, thành ra dại thêm
một lớp nữa. Thật tình như vậy, hết sức giản đơn mà chúng ta không chịu sống,
không chịu thấy.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tại sao khi tìm
không ra tội nghiệp của mình, nghe Tổ nói “Ta đã sám hối cho ngươi rồi”, ngài
Tăng Xán liền thấy lối vào? Do Ngài biết nghiệp đó không thật. Nhưng làm sao
biết nó không thật? Đây là nội dung chính của bài pháp nghiệp tập hôm nay.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chúng ta đi từ
nghiệp tập hiện tại trở lui về nghiệp tập quá khứ. Như người nam hồi còn trẻ
chưa biết hút thuốc, họ có thèm thuốc không? Không. Sau đó nếu mỗi ngày họ hút
hai điếu, ba điếu chừng năm bảy tháng thành nghiền. Bữa nào không hút thuốc họ
nói “tôi nghiền thuốc quá”. Bấy giờ nghiền thuốc trở thành tôi rồi. Hồi đầu
chưa hút, thuốc là thuốc, mình là mình, nó không phải là mình. Khi hút lâu
thành nghiền, thiếu thuốc nói tôi nghiền thuốc quá làm không nổi, đi không
được, gì gì đủ thứ. Như vậy cái nghiền thuốc thành tôi, nghĩa là đắp nghiệp vô
thành mình rồi. Người không nghiền thuốc đâu có nói tôi nghiền thuốc quá. Đó là
ví dụ thứ nhất.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ví dụ thứ hai, như
người uống rượu. Nếu trước chưa từng uống rượu, thấy rượu họ có nghiền có thèm
không? Nhưng khi đã uống năm năm, ba năm, vừa tới tiệc rượu người ta không mời,
họ cũng nhào vô uống, vì thèm vì nghiền rượu quá. Tại sao thèm? Vì cho nghiệp
uống rượu đó là tôi. Nên biết rượu, thuốc ban đầu không phải là mình, nhưng do
ta tập từ một hai ba bốn cho đến trăm ngàn lần, lâu ngày quen thành nghiệp. Thế
là chấp nhận nghiệp là mình. Mình có nghiệp nghiền thuốc, nghiền rượu nên thiếu
mấy thứ đó chịu không nổi. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Như vậy khổ đau
của người nghiền thuốc, nghiền rượu khi không có thuốc rượu do ai đem lại?
Không phải trời, không phải Phật, không phải người khác, mà chính họ tạo lấy
rồi thọ khổ với nghiệp mình đã tạo. Việc này không thể đổ thừa cho ai được, vì
rõ ràng do mình tập làm từ lúc ban đầu. Đổ thừa người này dụ tôi hút thuốc, hay
người kia dụ tôi uống rượu, đó là lối đổ thừa bâng quơ. Người ta dụ mà mình
không hút thì thôi, không uống thì thôi, có gì thành nghiệp. Nghiệp nghiền
rượu, nghiền thuốc là chính mình chủ động tạo. Tạo rồi sau đó khổ, thân sanh
bệnh hoạn tâm rối loạn. Đó là tại ai? Tại trời đất chăng? </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Bây giờ muốn bỏ
nghiệp ấy phải làm sao? Người ấy biết trước kia mình đâu có nghiền rượu, nghiền
thuốc, tại tập hút tập uống lâu dần mới thành nghiền. Bây giờ muốn hết nghiền
thì tập trở lại, đừng hút đừng uống nữa. Rượu, thuốc tánh nó là không, tập lâu
thành thói quen, thành nghiệp. Biết tánh nó là không, đừng theo nữa thì nó hết
chớ gì. Thấy thuốc không thèm hút, thấy rượu không thèm uống, lâu ngày hết
nghiền. Bởi tánh nó không, đâu phải thật, nó lại ở bên ngoài huân vô thành
nghiệp, không phải có sẵn. Như vậy bỏ là dễ, chớ đâu có khó. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ví dụ thứ ba là
hút á phiện, xì ke, ma túy. Có người nào cha mẹ sanh ra đã nghiền á phiện, ma
túy không? Không bao giờ có. Nguyên ban đầu nó không có, nhưng do tập hút, ban
đầu hút sơ sơ, lâu thành nghiền. Ngày nào không có nó thì ụa mửa, ngã bờ ngã
bụi, rất khổ sở. Khổ đó từ đâu mà ra? Rõ ràng từ mình. Tại mình thích, muốn nếm
mùi tứ đổ tường để tỏ ra ta lịch thiệp, cái gì cũng biết. Biết rồi thì thành
bệnh, muốn bỏ bỏ không được, vì đã nghiền.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Mọi khổ đau đều do
chính mình chủ động tạo, rồi chịu nó hành phạt, làm cho đau khổ trở lại. Như
vậy nghiệp từ ta huân tập, đâu phải ai đem tới cho mình. Nên nói “nghiệp tánh
bổn không”. Câu này là chân lý. Tánh nó vốn không, nếu tánh có thì mọi người ra
đời đều nghiền giống nhau. Nhưng không phải thế, người không tập thì không
nghiền, người tập mới nghiền. Do tánh vốn không, nhưng tại tập nên thành
nghiệp, vì vậy nói tập nghiệp.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chúng ta ở chùa có
ai dám tập mấy cái nghiệp đó không? Chắc không ai dám. Nếu trước lỡ có, vô đây
cũng bắt phải bỏ. Nhờ bắt bỏ nên nghiệp theo đó cũng hết. Bỏ nghiệp xấu thì nó
hết, còn mạnh khỏe hơn nữa, chớ chết đâu mà sợ. Vậy ba thứ bệnh nghiền thuốc,
nghiền rượu, nghiền á phiện, ma túy gốc đều do mình tập trong hiện đời, chớ
không phải ai đem tới. Đó là bệnh thứ nhất, bệnh nghiền.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Bệnh thứ hai là
bệnh thích. Trong chúng ta, có ai chẳng thích gì không? Không thích cái này
cũng thích cái kia. Ví dụ ở nhà ta ăn uống những món quen miệng, bây giờ ai cho
món khác, mình không thích. Cụ thể như Phật tử quen ăn chay, hôm nào đi đâu có
người bắt ăn mặn, quí vị liền nói “Tôi thích ăn chay”. Như vậy thích ăn chay là
tôi. Tôi thích. Ăn mặn tôi ăn không được. Cái thích đó do mình mới tập, chớ hồi
nhỏ cha mẹ cho ăn gì ăn nấy, đâu biết chay mặn chi. Khi đã tập quen rồi, thay
đổi mình không chịu. Rõ ràng thích này thích nọ là cái ta tập. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong ăn chay cũng
có cái thích, không thích nữa. Như người thích rau luộc, đem món khác không
thích. Tại sao? Tại rau luộc hợp với khẩu vị của họ. Người thích đậu hủ, có đậu
hủ ăn mới được, không đậu hủ ăn không được. Người thích xào chiên, có xào chiên
ăn mới ngon, không xào chiên ăn không ngon. Mỗi người thích mỗi thứ. Cái thích
đó tự nó có hay do mình tập? Do mình tập, lâu ngày thành thói quen. Nói tôi
thích cái này, tôi thích cái kia, thành ra cái thích đó là tôi rồi.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Từ cái chưa có
mình huân thành có, tạo ra nghiệp, sống bằng nghiệp. Bấy giờ nghiệp thành chủ,
còn mình mất tiêu. Tất cả những gì ta nói thích, tôi thích cái này, tôi thích
cái kia, đó là thích theo nghiệp nên bị nghiệp hướng dẫn, chớ không phải mình.
Nghiền là nghiệp, thích là nghiệp, chớ không phải mình. Như vậy đi sâu trong
tâm lý mới thấy ta tạo nghiệp rồi biến nó thành mình, thành cái tôi. Đó là bệnh
thứ hai, bệnh thích.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Bệnh thứ ba là
phải quấy. Cái phải của nhóm này đối với cái phải của nhóm khác thành ra quấy.
Tại sao nói phải? Tại sao nói quấy? Chúng ta thấy phải quấy cũng do huân tập mà
ra. Như ở Việt Nam, ông bà cha mẹ dạy con cháu lớn lên có hiếu thảo. Hiếu thảo
với cha mẹ thì kính nhường cha mẹ ăn trên ngồi trước, cha mẹ già phải nuôi
nấng. Dân tộc Việt Nam đã được huân như vậy. Bây giờ qua Mỹ, tới bữa cơm dọn
lên bàn xong xuôi, mấy đứa nhỏ mười hai, mười ba tuổi trèo lên ngồi trước, rồi
ba má ông bà tới sau. Như vậy chúng có hiếu không? Nếu ở bên này, con cháu lên
bàn kiểu đó thì cha nó tát tai rồi “Đồ vô lễ, không mời ông bà ngồi trước”. Còn
bên kia người ta thấy vậy là tốt. Thế thì cái phải ở Việt Nam với cái phải bên
kia giống nhau không? Hoàn toàn không giống. Nhưng cũng do huân tập thôi, chớ
tự nó không có phải quấy như vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Cái phải của tập
thể này tuân theo qui chế của nó. Tập thể khác đặt ra qui chế ngược lại, nhưng
theo họ là đúng. Khi hai cái phải nghịch nhau đối mặt thì sanh ra ẩu đả. Bởi
vậy mới có tập thể này thắng, tập thể kia thua. Nhẹ thì chửi nhau, nặng thì đập
nhau. Như các nước Tây phương thường có nhiều đảng. Mỗi đảng có chủ trương khác
nhau, chống nhau, mới có chuyện khi tranh cử chửi nhau. Bên này chê bên kia dở
để vận động cho đảng mình thắng. Như vậy phải quấy nằm chỗ nào? Đó là nói phải
quấy của tập thể, đảng phái.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Xét rộng hơn là
tôn giáo này, tôn giáo kia. Bây giờ chúng ta thấy tôn giáo lớn trên thế giới
không tôn giáo nào giống tôn giáo nào hết. Riêng Phật giáo, tôi thấy Phật có
một câu nói thật tuyệt vời: “Chúng sanh nghiệp tập khác nhau nên họ thích tôn
giáo cũng khác nhau”. Bởi vậy trong đạo Phật có vô lượng pháp môn, mà không nói
pháp môn nào chánh hết. Lẽ ra Phật dạy một đường thôi, tại sao lại nói vô lượng
pháp môn? Bởi Phật thấy tường tận căn cơ của chúng sanh. Kẻ khôn, người dại, kẻ
tự chủ, người ỷ lại, đủ hạng. Người thích huyền bí mà nói thực tế thì họ không nghe,
nên Phật phải nói vô lượng pháp môn. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tôi thấy không lẽ
mình theo đạo Phật, rồi cứ khen ngợi Phật hoài. Thật tình đối với tôi, đức Phật
rất tuyệt vời. Bởi vì Ngài thường dạy, khi chúng ta suy nghĩ điều gì, chỉ nên
nói: “Đây là suy nghĩ của tôi”, không nên dùng hai chữ phải quấy. Anh suy nghĩ
thế đó là suy nghĩ của anh. Mỗi người tùy ý suy nghĩ, không đặt phải quấy thuộc
về phần ai. Thật tuyệt! Chúng ta học Phật là học chân lý tuyệt đối, chân lý
chung của nhân loại. Cho nên không thể bám chặt vào phải quấy không thật rồi
sanh ra cãi vã, hơn thua, thù oán v.v… Đó là nghiệp tập thành ra phải quấy.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Như người tu Thiền
thích tự mình phát triển trí tuệ, tự mình dẹp hết phiền não, tự mình giải
thoát, chớ không trông cậy vào ai. Nhưng có những người không trông cậy kẻ
khác, họ làm không nổi. Do đó Phật dạy pháp môn niệm Phật để được Phật đón về
Tây phương. Đừng làm gì hết, cứ tin vào Phật, Phật sẽ đón về bên ấy. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Hoặc đối với những
người thích sự linh ứng mầu nhiệm thì Phật dạy tụng thần chú, có chư thiên hộ
trì, đủ thứ linh nghiệm. Tụng chú tới tam mật là thân mật, khẩu mật và ý mật
thì đức Phật Đại Nhật sẽ xoa đầu thọ ký. Cũng như niệm Phật tới nhất tâm bất
loạn thì Phật Di Đà sẽ rước về Cực Lạc. Tu thiền thì phải vô tâm, vô niệm mới
thấy cái chân thật hiện tiền. Như vậy do trình độ căn cơ bất đồng nên Phật dạy
nhiều pháp môn. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chúng ta là người
giáo hóa, đem Phật pháp truyền bá khắp nơi thì phải biết rõ như vậy. Nếu không,
người tu Tịnh độ chê người tu Thiền, người tu Thiền trách người tu Tịnh độ, rồi
tu Mật nữa, choảng nhau rối tung lên. Người niệm Phật nói niệm Phật về Cực Lạc,
có chỗ nơi đàng hoàng, còn tu Thiền không có chỗ nào về hết, chết đi đâu? Cứ
thế mà đặt câu hỏi lung tung với nhau, không hiểu trọng tâm của Phật dạy là vì
chúng sanh nhiều bệnh, nhiều nghiệp nên Phật có nhiều phương tiện giáo hóa khác
nhau. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Cho tới pháp môn
tu Thiền cũng vậy, tùy hoàn cảnh, trình độ Phật dạy khác nhau. Như ngài A-nan
đi giáo hóa gặp ông giữ nghĩa địa, xin Ngài dạy pháp tu. Ngài dạy ông quán sổ
tức, tức đếm hơi thở. Gặp ông làm lò rèn, Ngài dạy quán bất tịnh đi. Cả hai
ông, một người đếm hơi thở một người quán bất tịnh hoài mà không thấy tiến bộ
gì hết. Nghe hai ông trình bày, Ngài thắc mắc không hiểu tại sao, nên về hỏi
Phật: </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Bạch Thế Tôn,
con có dạy hai người đệ tử tu quán sổ tức và quán bất tịnh, nhưng không người
nào đạt kết quả hết. Như vậy là sao? </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Phật hỏi: </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Người được ông
dạy pháp quán bất tịnh làm nghề gì? </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Thưa làm thợ
rèn. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Người được ông
dạy pháp quán sổ tức làm nghề gì?</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Thưa giữ nghĩa
địa. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Phật nói: </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">- Tại ông dạy sai,
chớ không phải họ tu không có kết quả. Người giữ nghĩa địa thấy thây ma tới
hoài thì phải dạy quán bất tịnh, vì họ chứng kiến những cảnh đó nên quán mới
sâu, mới thành công. Còn người thợ rèn cứ thổi ra thổi vô khì khịt khì khịt,
nên dạy quán sổ tức. Đếm hơi thở hít vô thở ra đều đặn, như chính công việc của
họ thì tu dễ thành công hơn. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nghe Phật nói thế,
Ngài tìm tới hai người đệ tử dạy lại cách tu. Thời gian sau hai vị vui mừng báo
tin vui với Ngài là chúng con tu có kết quả rồi.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chúng ta mới thấy
pháp tu phải nhịp nhàng theo công việc, theo tập quán của mình thì dễ thành
công hơn. Không thể bất kể căn cơ, tập quán của mỗi người, tu sao cũng được. Do
Phật biết trình độ, căn cơ, hoàn cảnh của mỗi người nên Ngài dạy không lầm. Vì
vậy mười người tu thì mười người ngộ. Còn chúng ta bây giờ cứ nhắm chừng mà
dạy, không trúng bệnh nên người ta tu hoài không ngộ gì hết. Lỗi tại mình không
biết tùy duyên, tùy căn cơ mà có các phương tiện khác nhau. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Phật biết trình độ
chúng sanh sai biệt nên lập nhiều pháp môn sai biệt. Tất cả sự sai biệt đó đều
vì đối cơ mà trị bệnh, chớ không phải chân lý tuyệt đối. Người thời nay có tật,
tu pháp nào thì cho pháp đó là tuyệt đối. Người tu pháp khác tuy cũng Phật dạy,
nhưng mình cho đó chưa phải tuyệt đối, nên sanh bực bội chống đối lung tung. Đó
là do trình độ hiểu Phật của chúng ta quá cạn cợt. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chúng ta tu thiền
phải biết đây là pháp trị tất cả tâm bệnh. Tại sao? Như tâm có tham, sân, si,
mạn, nghi, ác kiến, đủ thứ phiền não thì có đủ pháp môn để đối trị. Nhưng bây
giờ chúng ta thử hỏi phiền não từ đâu mà ra? Từ tâm vọng tưởng mà ra. Tâm vọng
tưởng từ đâu mà ra? Do đối duyên xúc cảnh phân biệt mà ra. Như vậy dừng ngay
tâm vọng tưởng, tức là trị tận gốc rồi. Các bệnh sẽ theo đó mà hết. Chỉ tận gốc
rất khó, còn chỉ từng pháp đối cơ dễ hơn. Khi biết được tận gốc rồi chúng ta
nhìn ra ngoài thấy rõ lắm, không nghi ngờ gì nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chỉ tận gốc là,
vừa có hai niệm liền thành bệnh. Không có hai niệm thì đâu từng bệnh. Nếu không
từng bệnh đâu cần nhiều pháp môn? Hiểu tường tận như thế chúng ta mới thấy cái
hay của người tu từ gốc. Không nhận ra như thế, chúng ta chỉ tu ngọn ngành,
không tột cùng được cội gốc. Học Phật mà không tìm tới tận gốc thì không bao
giờ thấy được lẽ thật.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thứ tư là bệnh
thương ghét. Phải quấy đã làm khổ thiên hạ biết bao nhiêu rồi, bây giờ lại còn
thương ghét nữa. Chúng ta thử tìm xem tại sao mình thương, tại sao mình ghét?
Có hai lý do. Lý do thứ nhất là do thấy, nghe. Thấy mặt người đó dễ thương nên
vừa ý, nghe tiếng người đó dễ nghe nên vừa ý. Thấy vừa ý, nghe vừa ý là thương.
Nói vừa ý nhưng lại không biết ý mình làm sao? </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trên đời này không
ý ai giống ý ai. Nếu người ta thấy, nghe giống nhau thì chắc có một số người có
đôi bạn, còn một số người ở giá luôn. Phải vậy không? Nhờ thấy nghe không giống
nhau nên người nào cũng có kẻ vừa ý hết. Người này chê, người khác không chê.
Vì vậy trong thế gian ai cũng có đôi bạn được, chớ không bị lẻ loi. Rõ ràng như
vậy. Người này khen đẹp vừa ý, nhưng người khác lại chê không vừa ý. Như vậy
mỗi người có cái thấy, cái nghe không giống nhau. Bởi thấy nghe không giống
nhau nên sự huân tập cũng khác nhau, do đó cái thương ghét cũng khác nhau. Đó
là lẽ thường.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nếu thương, ghét
không giống nhau thì mọi người trên đời này, không ai được thương hoàn toàn,
cũng không ai bị ghét hoàn toàn. Nếu được đa số thương là tốt lắm, ưu lắm rồi,
thiểu số ghét cũng được. Còn người bị đa số ghét, chỉ một vài kẻ thương là dở
lắm. Nhưng chúng ta có bệnh nghe ai phê phán liền nổi tức lên. Một trăm người
có một người thứ chín mươi chín phản đối, tất cả còn lại đều đồng tình, mình
cũng không chịu nữa. Nghĩa là ta đòi phải 100% khen ngợi hết mới được, như vậy
là tham quá. Phật nói không có lẽ đó. Sống kiểu đó không bao giờ thấy yên lòng.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Đức Phật ngày xưa
còn bị thiên hạ chửi kia mà, làm sao ta được mọi người thương hết? Chỉ một số
người bằng lòng là quí rồi. Khi ta biết có một số người không thích mình là
chuyện bình thường, thì họ nói gì mình cũng cười thôi, giận làm chi. Giận là
ngu, bởi vì mình tham quá. Hiểu như vậy rồi chúng ta sống mới yên ổn nhẹ nhàng,
không tham lam quá đáng, nên không khổ. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nên biết thương
ghét cũng là tập nghiệp thôi. Người tập nghiệp nào thì hợp với những người cùng
có tập nghiệp ấy. Người ta hay nói bạn đồng nghiệp thường bênh vực nhau, đùm
bọc nhau. Vì đồng nghiệp nên dễ thông cảm, dễ thương mến nên họ đùm bọc bênh
vực nhau cũng là chuyện hợp lý. Thế nên ai cũng có chỗ sống, có nguồn an ủi
hết. Đó là vì nghiệp tập giống nhau nên thương yêu nhau, bảo bọc nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Như cùng làm thầy
thuốc, người thầy nào lương thiện thấy những thầy thuốc lương thiện khác liền
xem như anh em. Còn kẻ trộm cướp gặp mấy tên trộm cướp cũng vui vẻ thân thiện
với nhau. Rõ ràng thương ghét đều từ nghiệp tập mà ra, không phải bỗng dưng có.
Còn như hai phái nam nữ thương nhau là do nghiệp tập gì? Do nghiệp tập ái dục
nối tiếp dòng giống trên thế gian, chớ không có gì hạnh phúc cả. Song con người
vì muốn dòng giống đông, xứ sở nhiều nên tán thán đó là hạnh phúc, để gạt nhau.
Trên thực tế vùi đầu vô đó rồi khổ, chớ có hạnh phúc gì đâu. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Người đời do ái mà
có chồng vợ, rồi sanh con cái. Có con cái thì thương con cái. Con cái lớn lên
lập gia đình sanh con, thì lại thương cháu, cứ thương hoài. Thương cái này chưa
rồi, tới thương cái kia, thương cái kia chưa rồi tới thương cái nọ. Cứ thế nối
tiếp không cắt được dòng ái. Cho nên người tu cắt gỡ nghiệp tập đó, nên nói tu
là thoát ra biển ái, dứt mầm sanh tử. Vì nghiệp tập ấy to lớn như biển vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Mỗi người ra đời
đều mang theo một số nghiệp của quá khứ hoặc thuận hoặc nghịch. Nên khi gặp lại
nhau, có những thương ghét khác nhau. Lâu nay trong luân lý Việt Nam có nói:
“Cha mẹ nào mà không thương con”. Nhưng có những trường hợp ngược lại. Tôi đã
nghe một người mẹ kể như thế này. Bà có hai đứa con, đứa thứ nhất đi khỏi thì
thôi, nhưng vừa về thấy mặt là bà giận lắm, chẳng việc gì cũng cảm thấy tức
giận, bực bội. Chính bà cũng không hiểu tại sao như vậy? Còn đứa thứ hai đi đâu
vắng thì bà nhớ, bà trông. Nó về liền mừng rỡ. Bà hỏi tôi tại sao như vậy?</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Điều đó thật khó
giải thích, nhưng tôi biết rõ ấy là do nghiệp. Bởi vì trong kinh Phật có dạy,
người ôm ấp lòng thương hay tâm oán thù ai, khi nhắm mắt sẽ đem theo hai hình
ảnh ấy. Vì vậy đời sau gặp lại tiếp tục theo cái thương ghét trước mà đền trả.
Người mình thương nhiều là người thân, người mình ghét nhiều là người oán. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thêm một trường
hợp nữa. Vừa rồi có hai vợ chồng nọ tìm gặp tôi, người chồng hỏi: “Thưa thầy có
cha mẹ nào không thương con không?” Tôi nói “Cha mẹ nào mà không thương con”.
Người chồng mới kể lại chuyện của vợ ông. Cha mẹ vợ ở tại Sài Gòn rất giàu,
nhưng không biết lý do gì sanh con ra đem bỏ ngoài đường. Người khác thấy tội
nghiệp đem về nuôi, sau họ trả lại. Trả lại, cha mẹ vợ cũng đem cho người khác,
chớ không nuôi. Lớn lên vợ ông phải ra đường ăn xin, mà cha mẹ cũng không thèm
nhìn. Về sau cô bé có chồng, theo chồng qua Mỹ… nghe chồng kể tới đó, cô vợ
khóc lu bù. Họ hỏi thế là sao? Tôi trả lời không ra. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nhưng tôi đoán có
lẽ một phần do gia đình vợ ông mê tín, nghe lời mấy gã thầy bói nói cô ta sanh
nhằm ngày tháng kỵ với cha mẹ gì đó, nên họ mới đem bỏ. Bởi vậy sự mê tín nguy
hiểm vô cùng. Đó là giải thích theo nhân gian, nhưng nhà Phật bảo như vậy âu
cũng là do tập nghiệp của cô với gia đình. Đời trước gieo rắc oán thù sao đó,
bây giờ vừa gặp lại là phải đền trả quả khổ liền. Đã là tập nghiệp của quá khứ
thì hiện tại giải không ra, vì chúng ta không thấy được quá khứ. Đó là nói cha
mẹ với con cái có những trường hợp như vậy, nếu tập nghiệp thuận thì gặp lại
vui vẻ thương mến, nếu tập nghiệp nghịch gặp lại chỉ khổ thôi.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tới anh chị em
sanh ra, sống chung trong một gia đình cũng vậy. Người thương kẻ này, người
ghét kẻ kia, không giống nhau. Mà mức độ thương ghét cũng khác nữa. Đó là máu
mủ chung, sống trong một sự giáo dục chung, mà đã khác nhau từ tư tưởng cho đến
tình cảm. Thế nên đối với người ngoài chuyện thương ghét không đồng là điều dĩ
nhiên thôi, đều do tập nghiệp quá khứ mà ra.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Tập nghiệp quá khứ
có những việc không thể hiểu, không thể lường nổi. Thế nên tôi thường nhắc Tăng
Ni nuôi con nít phải khéo, nếu không sẽ biến lòng từ bi thành nghiệp tập thương
ghét, cột trói mãi từ đời này sang đời khác. Ta xuất gia là từ giã gia đình,
cắt ái từ thân, vô lý bây giờ cột lại? Cho nên quí vị phải thận trọng, liệu
mình không thể vượt qua được tập nghiệp thì thôi tránh, đừng làm.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thêm tập nghiệp
của mang thân nữa. Chúng ta có đủ phước duyên sanh làm người, hiểu biết rõ
ràng, đi đứng tự do v.v… nhưng nếu sanh ra bị những bệnh nan y như bại liệt thì
ta có còn muốn sống không? Chỉ mới tưởng tượng thế thôi, mình đã không muốn
sống, chết phứt cho rồi. Song ngược lại nếu ta hỏi những người bị bệnh tật ấy,
họ muốn sống không thì họ sẽ đáp: Muốn sống. Rõ ràng nghiệp phải trả thì phải
chịu để trả. Hồi xưa có nhiều người bị bệnh hủi, lẽ ra không muốn sống nhưng họ
vẫn sống như thường. Như vậy lỡ mang thân do nghiệp tạo ra, mình phải chịu theo
nó, chớ không cưỡng lại được. Đó là nghiệp tập làm người.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Đến nghiệp tập làm
các thân khác như bò, heo, chó… Có con nào muốn chết đâu. Hễ có thân thì phải
chịu, hài lòng với thân đó để sống, để trả. Chúng ta thấy có những con ngựa
phải kéo xe, bị đánh đập đủ thứ hết mà nó có muốn chết đâu, nó cũng muốn sống.
Nếu ai muốn hành hình cho nó chết, nó cự lại liền, làm dữ chớ không vừa. Như
vậy mới thấy nghiệp tập của chúng sanh khi mang thân rồi, luôn luôn phải đền
trả, phải chịu đựng, chớ không muốn bỏ tìm thân khác.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Đến tập nghiệp về
nết na tánh tình. Tăng Ni ở trong chúng dễ thấy điều này lắm. Một trăm người là
một trăm nết na, một trăm tánh tình, không ai giống ai hết. Cái không giống đó
tại cha mẹ dạy hay tại sao? Như trên tôi đã nói anh em sống chung một gia đình,
chịu sự giáo dục như nhau còn không thể giống nhau; huống nữa trong chùa cả
trăm giòng họ khác nhau. Bây giờ có huấn luyện tới già cũng không giống như
thường. Mỗi người mang một tâm tư, một tánh nết khác nhau. Kẻ thông minh, người
khờ dại, giáo dục mấy họ cũng mang những nét cơ bản của riêng mỗi người. Như
vậy mới thấy tập nghiệp luôn có những sai biệt giữa người này với người khác.
Gương mặt khác, hành động khác, tư tưởng khác. Tất cả đều từ tập nghiệp mà ra,
chớ không ai huấn luyện được hết.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Khi chúng ta thọ
thân là được kết tụ bao nhiêu thứ nghiệp tập cũ và mới. Bởi vậy phăng tìm tội
nghiệp không có, tại huân tập mà thành. Tất cả huân tập thành thân đều từ tập
nghiệp, mà tập nghiệp không thật nên tất cả thân này cũng không thật. Thấy tột
cùng như thế, ta qui tụ muôn ngàn sai biệt về một tánh Không thì không còn hai.
Được tới chỗ không hai rồi, giả sử một trăm người có hình dáng, tâm tư, tình
cảm khác nhau nhưng đều chung trong cái không hai ấy, đây gọi là đồng một Phật
đạo.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Đạo Phật không có
hai, vị Phật nào cũng như vị Phật nào. Nhiều người thắc mắc không biết chừng
nào đức Phật Di Lặc ra đời? Như trong kinh nói chừng nào giáo pháp của đức Phật
Thích Ca không còn ai biết tới, danh từ Tam bảo không còn ai biết tới, chừng đó
đức Phật Di Lặc ra đời. Tại sao vậy? Vì Phật đạo đồng. Đồng nên vị này còn, vị
kia ra nữa dư. Tại sao đồng? Bởi vì tu tới chỗ không còn hai niệm khác nhau, đó
là tâm thể như như. Tâm thể như như thì mọi người đều như, ai cũng như ai, có
gì khác. Nên biết đạo của chư Phật không khác, chỉ phương tiện truyền bá mới khác.
Vì vậy nên nói Phật Phật đạo đồng. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Như trên đã nói
thân này đã do tập nghiệp thành, mà tập nghiệp không thật nên rõ ràng thân cũng
không thật. Thấy thế là giác ngộ, là thấu suốt. Căn bản tu chính là sự giác
ngộ, thấu suốt ấy.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Để kết thúc bài
này, tôi dẫn câu chuyện của Tổ Đạo Tín. Lúc mới mười bốn tuổi, ngài Đạo Tín tới
gặp Tổ Tăng Xán đảnh lễ thưa: “Kính bạch Hòa thượng, xin Hòa thượng dạy con
pháp môn giải thoát”. Tổ nhìn thẳng vào mặt Đạo Tín hỏi: “Ai trói buộc ngươi?”
Thưa: “Không ai trói buộc con”. Tổ bảo: “Không ai trói buộc, cầu giải thoát làm
gì?”. Ngay đó ngài Đạo Tín liền biết đường vào. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lâu nay chúng ta
học kinh, nghe nói nghiệp dẫn mình đi trong sanh tử, như vậy nghiệp là cái trói
buộc mình. Nhưng ta thử hỏi lại nghiệp có thật hay không? Nghiệp không thật,
nên tìm không thấy, thành ra đâu thể nói nghiệp trói buộc mình. Như vậy cầu
giải thoát làm gì? Do trước kia ta hiểu lầm nghiệp là gốc trói buộc mình, bây
giờ tìm không ra tức biết nghiệp không thật. Nghiệp không thật nên hết trói
buộc, là giải thoát. Đơn giản làm sao! </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Như trên đã nói,
tất cả đều do nghiệp tập mà thành, nghiệp tập có thật đâu. Nó là cái tạm bợ giả
dối do mình tập thành, như vậy ta làm chủ nó chớ không phải nó làm chủ ta. Bây
giờ chỉ cần buông hết nghiệp tập là giải thoát sanh tử. Muốn buông hết nghiệp
tập thì phải buông cái gốc của nó là suy nghĩ phân biệt, đối đãi. Cho nên hỏi
ai trói buộc ngươi, mình tìm đáo để vẫn không thấy. Không có ai trói buộc thì
cầu giải thoát làm gì, như vậy là giải thoát rồi. Có trói buộc mới mở, còn
không ai trói buộc thì mở cái gì, tự nhiên giải thoát rồi. Vì thế nghe Tổ nói,
ngài Đạo Tín thấy được lối vào.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chư Tổ từ trước
đến sau chung một hệ thống hết sức rõ ràng, không có hai đường. Tổ Trúc Lâm Đại
Đầu Đà trong bài “Sơn phòng mạn hứng”, đã nói bốn câu hay đáo để:</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thùy phược cánh
tương cầu giải thoát,</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Bất phàm hà tất
mích thần tiên.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Viên nhàn mã
quyện nhân ưng lão,</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Y cựu vân trang
nhất tháp thiền. </span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thùy phược cánh
tương cầu giải thoát là ai trói lại mong cầu được giải thoát? Ở đây, Ngài lấy
ngay ý của Tổ Đạo Tín hỏi Tổ Tăng Xán, ai trói lại đi cầu giải thoát. Tìm cho
kỹ thì gốc trói mình là từ nghiệp tập, mà nghiệp tập không thật. Như vậy ai
trói buộc mình mà cầu giải thoát?</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Bất phàm hà tất
mích thần tiên là ta chẳng phải phàm đâu cần cầu thần tiên, cầu thánh, cầu Phật
làm gì? Như vậy chúng ta tu cầu thành gì? Chính mình đã Phật, đã có tánh giác
là đã thành Phật, nhưng Phật nhân chớ không phải Phật quả. Hiện tại vì nghiệp
tập nhiều quá nên tuy đã có tánh Phật nhưng chưa thành Phật. Bản tánh mình là
Phật rồi thì còn cầu làm Phật chi nữa cho mất công. Hai câu này nói rõ rằng tất
cả chúng ta không bị gì trói buộc cả, chẳng qua nghiệp tập hư ảo không thật tạm
che khuất tánh Phật. Như vậy tu không phải cầu bên ngoài mà soi lại mình, trở
về mình. Thế thôi.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Viên nhàn mã quyện
nhân ưng lão là con khỉ nhàn, con ngựa mỏi, còn người thì già. Câu này nói rõ
tất cả mọi loài trên thế gian này, đều từ sanh lần lần tới lão tử, không loài
nào thoát khỏi.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Y cựu vân trang
nhất tháp thiền là chỉ còn y nguyên ở vân trang một tòa thiền. Mấy thứ kia già
hết, chỉ một tòa ngồi thiền không già. Để nói lên mọi sự mọi vật trên thế gian
đều bị biến chuyển, vô thường, chỉ cái chân thật nguyên vẹn của chính mình
không bao giờ đổi dời, thì làm gì có sanh tử, có sanh già bệnh chết.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chỉ bốn câu này
thôi, chúng ta thấy Ngài đã thấu triệt được lý nghiệp duyên do mình tạo, rồi tự
mình khổ. Bây giờ muốn hết khổ, chỉ cần quay lại nhìn tường tận nghiệp không
thật, tâm niệm phân biệt không thật thì mọi trói buộc không còn. Chính mình đã
có Phật sẵn còn cầu thành tiên thành Phật làm gì nữa. Làm thân người hay thân loài
vật đều sống trong cảnh vô thường sanh diệt, chỉ có vô niệm của nhà Thiền xưa
nay không hai, không đổi.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Như vậy từ Tổ
Đạt-ma đến các Tổ Trung Hoa, sang Tổ Việt Nam cái nhìn không khác nhau. Chúng
ta thấy rõ tinh thần của người xưa dù ở mỗi hoàn cảnh khác nhau nhưng chỗ ngộ
không hai. Vì vậy chúng ta tu, muốn không còn nghiệp tập nữa thì phải trở về
được chỗ tột cùng không hai đó, mới chấm dứt luân hồi sanh tử, mới tự tại thoát
khỏi mọi buộc ràng.</span></p>
		</div>
				<div id="author">
						<p>
				<strong>Nguồn tin:</strong>
				HT Thanh Từ
			</p>
		</div>
	</div>
	<div id="footer" class="clearfix">
		<div id="url">
			<strong>URL của bản tin này: </strong><a href="https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/Tap-Nghiep-3919.html" title="Tập Nghiệp ">https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/Tap-Nghiep-3919.html</a>

		</div>
		<div class="clear"></div>
		<div class="copyright">
			&copy; Chùa Thành Lạng Sơn
		</div>
		<div id="contact">
			<a href="mailto:trananhls.1984@gmail.com">trananhls.1984@gmail.com</a>
		</div>
	</div>
</div>
        <div id="timeoutsess" class="chromeframe">
            Bạn đã không sử dụng Site, <a onclick="timeoutsesscancel();" href="https://chuathanhlangson.com/#">Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập</a>. Thời gian chờ: <span id="secField"> 60 </span> giây
        </div>
        <div id="openidResult" class="nv-alert" style="display:none"></div>
        <div id="openidBt" data-result="" data-redirect=""></div>
<div id="run_cronjobs" style="visibility:hidden;display:none;"><img alt="" src="/index.php?second=cronjobs&amp;p=b6NE5fqK" width="1" height="1" /></div>
<script src="https://chuathanhlangson.com/assets/js/jquery/jquery.min.js"></script>
<script>var nv_base_siteurl="/",nv_lang_data="vi",nv_lang_interface="vi",nv_name_variable="nv",nv_fc_variable="op",nv_lang_variable="language",nv_module_name="news",nv_func_name="savefile",nv_is_user=0, nv_my_ofs=0,nv_my_abbr="GMT",nv_cookie_prefix="nv4",nv_check_pass_mstime=1738000,nv_area_admin=0,nv_safemode=0,theme_responsive=0,nv_is_recaptcha=1,nv_recaptcha_sitekey="6LfAUHYUAAAAAGgoZZaLvBT8i740FIBrHubaqU07",nv_recaptcha_type="image",nv_recaptcha_elements=[];</script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/assets/js/language/vi.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/assets/js/global.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/news.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/main.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/bootstrap.min.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/themtet2018/js/fix_banners.js"></script>
</body>
</html>