<!DOCTYPE html>
<html lang="vi" xmlns="http://www.w3.org/1999/xhtml" prefix="og: http://ogp.me/ns#">
	<head>
<title>Y, Bát của Phật</title>
<meta name="description" content="Y, Bát của Phật - Savefile - Tin Tức - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;chuathanhlangson.com&#x002F;savefile&#x002F;phat-hoc-pho-thong&#x002F;Y-Bat-cua-Phat-5413.html">
<meta name="author" content="Chùa Thành Lạng Sơn">
<meta name="copyright" content="Chùa Thành Lạng Sơn [trananhls.1984@gmail.com]">
<meta name="robots" content="index, archive, follow, noodp">
<meta name="googlebot" content="index,archive,follow,noodp">
<meta name="msnbot" content="all,index,follow">
<meta name="generator" content="NukeViet v4.0">
<meta name="viewport" content="width=device-width, initial-scale=1">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<meta property="og:title" content="Y, Bát của Phật">
<meta property="og:type" content="website">
<meta property="og:description" content="Savefile - Tin Tức - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;chuathanhlangson.com&#x002F;savefile&#x002F;phat-hoc-pho-thong&#x002F;Y-Bat-cua-Phat-5413.html">
<meta property="og:site_name" content="Chùa Thành Lạng Sơn">
<meta property="og:url" content="https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/Y-Bat-cua-Phat-5413.html">
<link rel="shortcut icon" href="https://chuathanhlangson.com/uploads/lotus.png">
<link rel="canonical" href="https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/Y-Bat-cua-Phat-5413.html">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/" title="Tin Tức" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/tin-tuc/" title="Tin Tức - Tin tức thời sự" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/phat-hoc-pho-thong/" title="Tin Tức - Giáo lý Phật pháp" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Chuyen-Dao-Doi/" title="Tin Tức - Chuyện Đạo & Đời" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/phat-giao-tuoi-tre/" title="Tin Tức - Tuổi trẻ tươi sáng" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/nep-song/" title="Tin Tức - Triết lý nhân sinh" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Suc-Khoe/" title="Tin Tức - Sức Khỏe - Y Học" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Vu-Lan-33/" title="Tin Tức - Công trình xây dựng chùa Tân Thanh" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://chuathanhlangson.com/rss/Xu-Lang-Que-Toi/" title="Tin Tức - Xứ Lạng Quê Tôi" type="application/rss+xml">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/assets/js/jquery/jquery.min.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/assets/js/language/vi.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/assets/js/global.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/default/js/news.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/mobile_default/js/main.js">
<link rel="preload" as="script" href="https://chuathanhlangson.com/themes/mobile_default/js/bootstrap.min.js">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/assets/css/font-awesome.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/mobile_default/css/bootstrap.min.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/mobile_default/css/style.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://chuathanhlangson.com/themes/mobile_default/css/news.css">
<style>
	body{background: #fff;}
</style>
	</head>
	<body>

<div class="container-simple">
<div id="print">
	<div id="hd_print">
		<h2 class="pull-left">Chùa Thành Lạng Sơn</h2>
		<p class="pull-right"><a title="Chùa Thành Lạng Sơn" href="https://chuathanhlangson.com/">https://chuathanhlangson.com</a></p>
	</div>
	<div class="clear"></div>
	<hr />
	<div id="content">
		<h1>Y, Bát của Phật</h1>
		<ul class="list-inline">
			<li>Thứ bảy - 26/11/2011 13:42</li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-print">&nbsp;</em><a title="In ra" href="javascript:;" onclick="window.print()">In ra</a></li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-power-off">&nbsp;</em><a title="Đóng cửa sổ này" href="javascript:;" onclick="window.close()">Đóng cửa sổ này</a></li>
		</ul>
		<div class="clear"></div>
		<div id="hometext">
			Dựa theo kinh Bổn Sanh thì sau khi ra khỏi cung thành Ca Tỳ La Vệ và vào tận rừng sâu thì thái tử Tất Đạt Đa đã đổi bộ y phục sang trọng may bằng lụa xứ Ba-la-nại cho một người thợ săn vốn là hóa thân của một phạm thiên để nhận một bộ y phục nhạt màu.
		</div>
		<div id="bodytext" class="clearfix">
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngài nghĩ rằng
chiếc áo cà sa đơn giản thì thích hợp hơn khi Ngài còn đang vân du khắp nơi để
tìm cầu chân lý. Dựa theo Luật tạng Nhất Thiết Hữu Bộ thì vào thời quá khứ tại
cung thành Ca Tỳ La Vệ có mười anh em cùng xuất gia, tu tập và chứng quả Bích
Chi Phật. Trước khi nhập diệt, tất cả những vị Bích Chi Phật nầy đã trao lại
những tấm y bá nạp của mình cho bà mẹ và cùng thưa rằng vào đời tương lai có
Đức Thích Ca Mâu Ni là con vua Tịnh Phạn chứng được quả vô thượng Bồ-đề.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Nếu đem những y phục nầy dâng cho Ngài thì sẽ được phước báu vô lượng. Người mẹ
theo ý nguyện trên nên giữ gìn cẩn thận những bộ y đó. Trước khi qua đời bà
trao chúng lại cho người con gái của mình để giữ gìn. Đến khi cô con gái trở
nên già yếu thì cô bèn đem những tấm y đó treo trên cây và cầu vị thần cây bảo
hộ để sau nầy trao lại cho con vua Tịnh Phạn. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trời Đế Thích đem
y về giữ gìn và đợi đến khi thái tử xuất gia thì hiện thành một người thợ săn
đến đổi y phục cho thái tử. Khi về đến cõi trời, Đế Thích bèn xây tháp phụng
thờ bộ y phục bằng lụa xứ Ba-La-Nại của thái tử và tháp nầy có tên là Xuất gia
y tháp.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chính tấm y nầy thái tử Tất Đạt Đa đã mặc trong suốt thời gian tu khổ hạnh.
Kinh Phổ Diệu còn nói thêm rằng trải qua thời gian sáu năm khổ hạnh, tấm y của
thái tử dần dần cũ và rách đi. Thái tử sau đó đã đến nghĩa địa nhặt những mảnh
vải cũ vốn được dùng để bọc tử thi của một tỳ nữ. Cô gái nầy đã chết trong ngôi
nhà gần nơi trú ngụ của vị trưởng làng. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Thái tử giặt sạch
những mảnh vải nầy và sau đó khâu thành một bộ y phục mới cho mình tại một gốc
cây mà về sau được gọi là nơi khâu y phấn tảo. Bộ y phục nầy được xem là khởi
đầu cho truyền thống mặc y phấn tảo hay y bá nạp tức là loại y được may từ
những mảnh vải rách lượm từ đống rác hay nghĩa địa được giặt sạch.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngoài tấm y phấn tảo nầy, Đức Phật được một vị thần cây dâng lên một y Tăng già
lê của Đức Phật Ca Diếp theo như lời phó chúc của Đức Ca Diếp. Sau ngày thành
đạo Đức Phật Thích Ca đã thọ trì và giữ gìn tấm y nầy một cách cẩn thận suốt 49
năm và truyền lại cho tôn giả Đại Ca Diếp. Sau đó tôn giả Đại Ca Diếp đem tấm y
nầy vào núi Kê Túc để nhập định lưu thân và về sau giao lại cho Đức Di Lặc.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong thời gian du hóa sau ngày thành đạo, Đức Phật đã được nhiều vị gia chủ
cúng dường những tấm lụa quý hiếm, nhưng Ngài đều giao lại cho đệ tử mình tùy
nghi xử dụng. Ngay cả dưỡng mẫu Ma-ha-Ba-xa-ba dùng tơ quý dệt thành một bộ y
để đem dâng cúng Phật. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Khi bị Đức Phật từ
chối dưỡng mẫu tỏ vẻ không vui thì Đức Phật khuyên bà nên đem cúng bộ y ấy cho
chư tăng vì cúng dường chư tăng cũng chính là cúng dường Phật vậy.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong số những đại đệ tử của Phật, chỉ có tôn giả Đại Ca Diếp là tu khổ hạnh
đầu đà. Một ngày nọ Đức Phật đến thăm nhân lúc tôn giả đang ở dưới một gốc cây,
tôn giả bèn gấp y Tăng già lê của mình và thỉnh Đức Phật ngồi lên tấm y đó. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Khi nghe Đức Phật
khen tấm y mềm mại, tôn giả thành tâm xin được cúng dường tấm y của mình cho
Đức Phật và mong được thọ trì tấm y phấn tảo mà Đức Phật đang dùng. Đức Phật biết
tôn giả đang cần y phấn tảo để thực hành khổ hạnh đầu đà nên Ngài chấp thuận.
Tôn giả đã sử dụng tấm y phấn tảo nầy cho đến cuối đời mình.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngoài tấm y ra thì bình bát của Đức Phật được xem là bảo vật truyền thừa của
chư Phật. Sau khi thành đạo dưới cội Bồ-đề, có hai vị thương gia tên là Đề Vị
(Tapussa) và Ba Lợi (Bhallika) dâng cúng thức ăn cho Phật và đây là bửa ăn đầu
tiên của Ngài ở Bồ-đề đạo tràng sau khi thành đạo. Khi được hai vị thương gia
cúng dường thức ăn thì Đức Phật liền nghĩ rằng chư Phật trong ba đời đều dùng
bình bát để thọ dụng vật thực, nay ta cũng nên theo truyền thống nầy. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lúc bấy giờ có bốn
vị Thiên Vương biết được tâm niệm đó nên mỗi người mang một bình bát bằng đá
đem dâng lên Đức Phật. Vì thương tưởng các vị Thiên Vương nên Đức Phật liền
nhận cả bốn bình bát và Ngài liền dùng thần lực khiến cho bốn bình bát nầy trở
thành một cái duy nhất. Bình bát nầy về sau trở thành vật tùy thân của Đức Phật
trong suốt 49 năm du hóa của Ngài.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong sách Pháp Uyển Châu Lâm có nói đến một bình bát bằng đất do một vị thần
núi dâng cho Đức Phật sau ngày thành đạo. Đức Phật đã cẩn thận sử dụng cái bình
bát nầy trong cả cuộc đời của Ngài nữa. Một ngày nọ, Đức Phật được quốc vương
xứ Ma Kiệt Đà thỉnh vào thành Vương Xá để thọ trai. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Sau khi dùng cơm
xong, La Hầu La mang bình bát nầy đến hồ Rồng để rửa nhưng chẳng may làm vỡ
bình bát thành năm mảnh. Đức Phật không hề trách cứ La Hầu La mà đem bình bát
vá lại và Ngài tiên đoán rằng sau khi Ngài nhập diệt có những người xuất gia không
tôn kính và thọ trì giáo pháp.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Phật dạy rằng:”Trong năm trăm năm đầu luật tạng bị chia thành năm bộ, giáo pháp
bị chia thành mười tám bộ và đến lúc chánh pháp suy tàn thì tam tạng thánh điển
bị chia thành năm trăm bộ”. Khi Đức Phật nhập diệt thì Ngài truyền y bát lại
cho tôn giả Đại Ca Diếp. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chính cái bình bát
bằng đất nầy là vật di truyền cho tôn giả Đại Ca Diếp. Về sau tôn giả đem y,
bát vào núi Kê Túc thuộc miền Bắc Ần Độ và chờ trao lại cho Đức Phật Di Lặc
trong tương lai. Chính Ngài Tam Tạng Trần Huyền Trang thuật lại trong Đại Đường
Tây Ký về núi Kê Túc là núi nầy cao chót vót, động sâu hun hút, cây cối chằng
chịt, đường dốc chập chùng và người đời về sau vì kính trọng tôn giả Đại Ca
Diếp nên gọi núi nầy là Tôn Túc.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Dựa theo kinh Phật Thuyết Di Lặc Đại Thành Phật thì khi Đức Di Lặc giáng sinh
và thành Phật thì Ngài sẽ dùng thần lực để mở núi Kê Túc. Khi ấy có vị Phạm
Vương dùng dầu thơm cõi trời xoa trán và thân của tôn giả Đại Ca Diếp. Tôn giả
bèn ra khỏi Diệt Tận Định, trần vai phải, quỳ gối phải, thưa thỉnh và dâng y
Tăng già lê và bình bát của Đức Thích Ca cho Đức Di Lặc. Theo Đại Trí Độ Luận
thì loài người sanh trong thời Đức Phật Di Lặc có thân hình to lớn và tuổi thọ
cũng cao hơn nhiều so với loài người trong thời Đức Phật Thích Ca. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Vì thế mà hội chúng
khi thấy tôn giả Đại Ca Diếp có thân hình nhỏ bé như côn trùng mà đắp pháp phục
và thi triển được thần thông thì tất cả đều kinh ngạc. Điều đáng chú ý là chúng
sinh trong thời Đức Di Lặc tuy có thân hình to lớn hơn nhiều, nhưng tấm y mà
tôn giả Đại Ca Diếp dâng lên vẫn xứng hợp với Đức Di Lặc.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Y và bát của Đức Phật đã nói lên phẩm hạnh của một người xuất gia được hình
thành nhờ vào nếp sống tinh tấn đạo đức qua việc thọ nhận phẩm vật của người
đời để nuôi thân và che thân. Con người sở dĩ chịu quá nhiều đau khổ, tai ương
là vì họ quá đam mê ngũ dục. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Vì thế hình ảnh từ
một bậc vương tử đến một người tầm đạo khổ hạnh cho đến một bậc đạo sư trong
tam giới sống một cuộc đời thanh đạm với tấm y bạc màu và bình bát đơn sơ sẽ
luôn luôn là hình ảnh cao đẹp và thâm thúy nhất cho những ai đang theo đuổi về
một lẽ sống thuần tịnh, thanh cao và đang hướng về một lý tưởng trong sáng để
tự giải thoát cho mình ra khỏi mọi hệ lụy khổ đau.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Suốt hai trăm năm đầu, từ Tổ Bồ-Đề cho tới Lục Tổ Huệ Năng thì Thiền còn giữ
hầu hết màu sắc của Phật giáo Ấn Độ là giản dị và thực tiễn. Từ thời Lục Tổ trở
đi thì Thiền Trung Hoa chia thành Bắc Tông do ngài Thần Tú thống lãnh và Nam
Tông do Lục Tổ chủ trương. Sau đời Lục Tổ Huệ Năng, Nam Tông lại chia thành năm
chi phái. Đó là Lâm Tế, Pháp Nhãn, Tào Động, Vân Môn và Quy ngưỡng. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong số đó chỉ
còn hai phái mà ngày nay vẫn còn hoạt động mạnh ở Trung Hoa và Nhật Bản. Đó là phái
Lâm Tế và Tào Động. Phái Lâm Tế được Thiền Sư Vinh Tây (Eisai) mang vào Nhật
năm 1191. Còn phái Tào Động thì do Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen) sáng lập ra ở
Nhật vào năm 1227.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi là người Ấn Độ và cũng là đệ tử của Tam Tổ Tăng Xán của
Trung Hoa. Sau khi đắc đạo ngài vâng lời sư phụ sang Việt <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> để hoằng
dương Phật pháp vào năm 580 Tây lịch. Ngài trụ trì tại chùa Pháp Vân ở tỉnh Hà
Đông và ngài Pháp Hiển là Sơ Tổ Việt <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> của phái nầy. 
    <br /></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Mãi đến thế kỷ
thứ 9, có Ngài Vô Ngôn Thông là đệ tử của Tổ Bá Trượng ở Trung Hoa sang Việt
Nam để hoằng dương Phật pháp và từ đó phái Vô Ngôn Thông được ra đời và chính
Tổ đã truyền cho Thiền sư Cảm Thành tại chùa Kiến Sơn, Bắc Ninh. Đến thế kỷ thứ
10 khi vua Lý Thánh Tôn đem quân chinh phục nước Chiêm Thành vào năm Kỷ Dậu
(1069) có bắt được vua nước ấy là Chế Củ và rất nhiều thường dân cũng như binh lính
đem về Việt Nam.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Khi về đến Thăng Long mới phát hiện trong số quan nhân có Thiền Sư Thảo Đường nên
được vua Lý Thánh Tôn sắc phong cho Ngài làm quốc sư. Từ đó Ngài lập đàn khai
giảng ở chùa Khai Quốc trong thành Thăng Long và Ngài trở thành Tổ của phái
thiền Thảo Đường ở Việt Nam. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Đến thế kỷ thứ 12
khi vua Trần Nhân Tông truyền ngôi cho con để lên núi Yên Tử xuất gia và lập ra
phái Trúc Lâm Yên Tử. Phái Trúc Lâm ra đời thâu gồm tinh hoa của ba ba phái
Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Đến thế kỷ thứ 15 thì nhà Trần mất và nhà Lê lên thay thì phái Trúc Lâm lần lần
bị tiêu mòn cho đến mất tung tích. Cho đến thế kỷ thứ 19 thì Việt <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region> chia làm
hai: đàng ngoài có vua Lê, đàng trong có chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn thỉnh các Tổ
như Nguyên Thiều thuộc phái Lâm Tế từ Trung Hoa sang truyền bá cho nên Thiền
thời chúa Nguyễn chịu ảnh hưởng rất lớn của phái Lâm Tế.</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Còn vua Lê cũng
thỉnh các Tổ như Chuyết Công thuộc phái Lâm Tế hay Tào Động mà sau nầy ngài
Liễu Quán là Thiền Sư Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của tông Lâm Tế nầy. Nhờ đó
Việt <st1:country-region w:st="on"><st1:place w:st="on">Nam</st1:place></st1:country-region>cũng có nhiều môn phái như ở Trung Hoa. Đó là các phái Vô Ngôn Thông, phái Thảo
Đường, phái Trúc Lâm và phái Liễu Quán.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Người Tây phương thì họ nhìn Thiền Phật giáo qua ngưởng cửa của Thiền Nhật Bản
nên họ gọi Thiền là Zen. Zen được định nghĩa như sau:&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">“Zen is a Japanese form of Buddhism reaching enlightenment through meditation,
contemplation and intuition”. “Thiền là Phật giáo mang sắc thái Nhật Bản nhằm đạt tới trạng thái giác ngộ nhờ
tham thiền, nhập định và trực giác”.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Trong tất cả mọi chúng sinh dù nam hay nữ, dù thông minh hay khờ dại hoặc dù khỏe
mạnh hay đau yếu thì ai ai cũng đều có Phật tánh như nhau. Nhưng tâm thức của
con người sau khi trải qua bao nhiêu kiếp sống luân hồi đã bị cái vỏ cứng của
vô minh che phủ nên chúng ta không nhận thức được cái Phật tính toàn vẹn trong
sạch hoàn hảo kia. Phương cách thực tiễn nhất để trở về với cái Phật tánh thanh
tịnh, bất sanh bất diệt, vốn tự đầy đủ là tọa thiền. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Ngày xưa từ Đức
Phật cho đến các đại đệ tử của Ngài được giác ngộ cũng nhờ công phu tọa thiền.
Thật vậy, tâm Phật và tâm của chúng ta không hề khác nhau. Tâm của Phật thì ví
như mặt nước hồ thu yên tĩnh mà trên đó mặt trăng chân lý có thể phản chiếu một
cách toàn vẹn.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Còn tâm của chúng ta thì giống như mặt nước đang bị các làn sóng vô minh khuấy
động không thể phản chiếu gì được. Tư tưởng chính là nguồn gốc của sự mê hoặc
làm cho tâm thức của con người càng thêm mê muội và vọng tưởng chính là sản
phẩm của nó. Vì thế thiền định là phương pháp làm ngưng lại và tiêu diệt những
tư tưởng nầy. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Do đó một khi
những làn sóng tư tưởng khuấy động đã chấm dứt thì chúng ta sẽ nhận thấy rằng
mặt trăng chân lý lúc nào cũng chiếu sáng. Đây là thời điểm mà con người nhận
ra kiến tánh của mình. Cái kiến tánh nầy sẽ luôn luôn ở với chúng ta và từ đây
chúng ta sẽ nhận chân cuộc sống nầy rất thoải mái bình an trong cái tâm trạng
đầy phúc lạc thanh thản.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Giữa hai phái Lâm Tế và Tào Động thì cách tu tập của phái Tào Động tương đối
giản dị, cụ thể và rõ ràng giống như Phật giáo Ấn Độ. Trong khi phái Lâm Tế thì
rắc rối, khó hiểu và có tính cánh bí truyền theo kiểu Trung Hoa. Trong xã hội
phức tạp căng thẳng của thế kỷ 21 nầy thì cách tu tập giản dị của phái Tào Động
có lẽ thích hợp với con người hơn. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Khác với phái Lâm
Tế là phải dùng “công án” tức là đề tài để thiền giả tư duy quán chiếu và “tham
thiền” để đạt chứng ngộ thì phái Tào Động chỉ chủ trương “chỉ quán đả tọa” ,có
nghĩa là ngồi thiền chỉ là ngồi thôi chứ không ngồi để suy tưởng một đề tài nào
đó với mục đích mong cầu sự giác ngộ.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Một trong những mục đích thực tiễn trong việc thực hành thiền là để xóa bỏ cái
trạng thái “xác một nơi mà hồn một nẻo” để giúp con người trở về với trạng thái
“thân tâm nhất như” tức là thân tâm là một.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Sống trong một thế giới văn minh thì con người dễ dàng đánh mất trạng thái “tâm
với thân là một thể”. Sự phức tạp của đời sống làm con người luôn bận rộn.
Nhưng nhìn kỹ lại thì chúng ta chỉ bận rộn có một nữa, có nghĩa hoặc là bận rộn
về tinh thần hoặc là thân xác. Chẳng hạn như một luật sư thì suốt ngày bận rộn
với đầu óc trong khi thể xác thì thiếu hoạt động. Ngược lại một công nhân trong
xí nghiệp thì lúc nào cũng bận rộn với thể xác mà trí óc lại trì trệ. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chính sự sống
phiến diện nầy cho nên chúng ta thường hay nghe có những vấn đề như “sức khỏe
tinh thần” hay “sức khỏe thể xác” và đây chính là nguyên tắc của thuyết “nhị
nguyên”. Dựa theo thuyết nầy thì bất cứ cái gì trong thế gian nầy cũng phải có
đối tượng của nó. Thí dụ khi nói bên trong thì phải có bên ngoài, có thiện tức
có ác, tinh thần đối với thể xác hay thực tế đối với lý tưởng…&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Khi thực tập thiền thì đây là một phương pháp rất hữu hiệu trong việc xóa bỏ
các biên giới của sự đối lập nầy để mang con người trở về một nhất thể hòa điệu
với chính mình cũng như với thiên nhiên. Khi tâm con người đạt đến một trạng
thái yên tĩnh để không còn các khái niệm “nhị nguyên” thì người đó được gọi là
kiến tánh tức là thấy được cái bản tâm thanh tịnh của mình. <o:p></o:p></span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Lúc ấy con người
sẽ thấy rằng thiện ác là một, tốt xấu là một, phiền não Bồ-đề là một và sinh tử
Niết bàn cũng là một. Tất cả những khái niệm về nhị nguyên hoàn toàn tan biến
và chân lý Bất nhị sẽ hiển hiện rất rõ ràng và trong sáng. Dù vậy, sự yên tĩnh
nầy không có nghĩa là một trạng thái khô cằn kiệt quệ của tâm thần mà chính là
sự yên tĩnh của an vui tự tại.&nbsp;</span></p>
<p style="text-align: justify; font-family: Times New Roman;"><span style="font-size: 14pt;">Chẳng hạn như một khi tâm đã định là cái tĩnh của một con mèo rình bắt chuột. Con
mèo có thể nằm bất động hàng giờ, nhưng sự bất động đó là một sự tĩnh lặng đầy
tĩnh thức. Nhờ cái tĩnh đó mà con mèo có thể nhẩy nhanh như chớp để vồ con
chuột. Ngược lại, nếu tâm chưa định cũng giống như một con chó rình chuột. Chó
thì miệng sủa, chân cào và chạy nhảy lăng xăng nhưng khi con chuột chạy qua thì
nó lại không bắt kịp.<o:p></o:p></span></p>
		</div>
				<div id="author">
						<p>
				<strong>Nguồn tin:</strong>
				Lê Sỹ Minh Tùng
			</p>
		</div>
	</div>
	<div id="footer">
		<div id="url">
			<strong>URL của bản tin này: </strong><a href="https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/Y-Bat-cua-Phat-5413.html" title="Y, Bát của Phật">https://chuathanhlangson.com/phat-hoc-pho-thong/Y-Bat-cua-Phat-5413.html</a>

		</div>
		<div class="clear"></div>
		<div class="copyright">
			&copy; Chùa Thành Lạng Sơn
		</div>
		<div id="contact">
			<a href="mailto:trananhls.1984@gmail.com">trananhls.1984@gmail.com</a>
		</div>
	</div>
</div>

</div>
        <div id="openidResult" class="nv-alert" style="display:none"></div>
        <div id="openidBt" data-result="" data-redirect=""></div>
<script src="https://chuathanhlangson.com/assets/js/jquery/jquery.min.js"></script>
<script>var nv_base_siteurl="/",nv_lang_data="vi",nv_lang_interface="vi",nv_name_variable="nv",nv_fc_variable="op",nv_lang_variable="language",nv_module_name="news",nv_func_name="savefile",nv_is_user=0, nv_my_ofs=0,nv_my_abbr="GMT",nv_cookie_prefix="nv4",nv_check_pass_mstime=1738000,nv_area_admin=0,nv_safemode=0,theme_responsive=0,nv_is_recaptcha=1,nv_recaptcha_sitekey="6LfAUHYUAAAAAGgoZZaLvBT8i740FIBrHubaqU07",nv_recaptcha_type="image",nv_recaptcha_elements=[];</script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/assets/js/language/vi.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/assets/js/global.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/default/js/news.js"></script>
<script src="https://chuathanhlangson.com/themes/mobile_default/js/main.js"></script>
<script type="text/javascript" src="https://chuathanhlangson.com/themes/mobile_default/js/bootstrap.min.js"></script>
</body>
</html>